Tag Archives: nuoi tom

Giải quyết điểm nóng dịch bệnh trên tôm tại Sóc Trăng

Giải quyết điểm nóng dịch bệnh trên tôm tại Sóc Trăng

Theo các báo cáo tại hội nghị, không như nhiều địa phương khác trong tỉnh, tình hình dịch bệnh trên tôm tại Thị xã Vĩnh Châu tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp, tôm vẫn tiếp tục nhiễm bệnh, chết và nông dân vẫn tiếp tục thả giống bất chấp lệnh công bố dịch kể từ giữa tháng 2/2014 của địa phương.

Theo thống kê, từ đầu vụ đến nay, trên địa bàn thị xã đã thả nuôi được 2.302 ha tôm thẻ chân trắng, tổng diện tích bị thiệt hại là 1.516 ha (chiếm 65,86% diện tích), trong đó diện tích bị thiệt hại kể từ ngày công bố dịch là 534 ha. Về qui mô thâm canh có 622 ha, bị thiệt hại 292 ha (chiếm 46,95%), bán thâm canh là 1.680 ha, thiệt hại 1.224 ha (chiếm 72,86%).

Nhiều xã, phường trên địa bàn tỷ lệ tôm bị thiệt hại rất cao như xã Vĩnh Hiệp (93%), phường Khánh Hòa (87,3%), Hòa Đông (79,9%), phường 2 (75,8%), Vĩnh Phước (69%)….

Bên cạnh đó, diện tích thả nuôi tôm sú từ đầu vụ đến nay là 372 ha, diện tích bị thiệt hại là 96 ha, trong đó diện tích bị thiệt hại kể từ ngày công bố dịch là 21 ha.

Các ý kiến phát biểu cho rằng, nguyên nhân của tình hình dịch bệnh như trên là do giá tôm đang rất cao, hấp dẫn nông dân thả nuôi bất chấp lệnh công bố dịch của địa phương.

Diễn biến bất lợi của thời tiết, tiến độ thả giống năm trước kéo dài, thả nuôi xen kẽ ở hầu hết các vùng nuôi nên việc quản lý nguồn nước, giám sát tình hình dịch bệnh hết sức khó khăn.

Ngoài ra, tốc độ chuyển đổi sang nuôi tôm thẻ quá nhanh, chất lượng tôm giống không thể kiểm soát cũng là những yếu tố bất lợi ngay từ đầu vụ khiến cho diễn biến dịch bệnh trên tôm kéo dài và có xu hướng ngày càng phức tạp hơn tại Vĩnh Châu.

“Không như các địa phương, các huyện khác trong tỉnh, trong khi tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát, khâu nuôi trồng đã được khôi phục và phát triển thì tình hình dịch bệnh tại Vĩnh Châu vẫn tiếp tục treo lơ lửng, gây đau đầu cho cơ quan quản lý, người nuôi tôm” Ông Lê Thành Trí nhận xét.

Đồng thời, từ các ý kiến phát biểu tại hội nghị, ông Trí cho rằng để kiểm soát được dịch bệnh, Thị xã Vĩnh Châu nên nâng cao và tăng cường vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác quản lý trong đó tập trung vào khung lịch thời vụ, kiểm soát tình hình thả giống của nông dân đặc biệt là tăng cường công tác kiểm dịch con giống nhập tỉnh, quản lý chất lượng thuốc, hóa chất thủy sản và công tác quan trắc môi trường.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/giai-quyet-diem-nong-dich-benh-tren-tom-tai-soc-trang-36632.html

Các nguồn tạo Oxy hòa tan và tiêu thụ Oxy hòa tan trong ao nuôi

Lượng oxy hòa tan cao nhất là vào buổi xế chiều do oxy hòa tan được tích lũy dần nhờ quá trình quang hợp của tảo và các thực vật xanh trong ngày và lượng oxy hòa tan thấp nhất vào sáng sớm do quá trình hô hấp cả động thực vật trong ao về đêm.

Các nguồn tạo Oxy hòa tan và tiêu thụ Oxy hòa tan trong ao nuôi

Ảnh hưởng của Oxy hòa tan đối với tôm :

– Oxy hòa tan < 0,3 mg/L : tôm chết ngay tức khắc.

– Oxy hòa tan < 1 mg/L: kéo dài tôm sẽ chết.

– Oxy hòa tan < 3 mg/L: tôm tăng trưởng rất kém và đáp ứng miễn dịch giảm.

– Oxy hòa tan > 4 mg/L: tôm tăng trưởng bình thường.

– Oxy hòa tan > 5 mg/L: tôm tăng trưởng tốt.

Các nguồn tạo oxy hòa tan chủ yếu cho ao:

1. Quá trình quang hợp của tảo (Phytoplankton): Quá trình quang hợp là nguồn tạo oxy hòa tan chủ yếu cho ao nhưng tảo cũng là nguồn tiêu thụ chủ yếu oxy hòa tan về đêm thông qua quá trình hô hấp.

Vì vậy, quản lý cân bằng quá trình quang hợp và hô hấp là hết sức quan trọng (việc này phụ thuộc vào quản lý mật độ tảo, mật độ vi sinh vật trong ao và mật độ tôm nuôi,…):

Người nuôi cần có kinh nghiệm sử dụng vi sinh và mật đường để kiểm soát mật độ tảo đồng thời phải cung cấp đủ lượng Oxy hòa tan về đêm cho ao nuôi thông qua việc sử dụng số lượng và kiểu quạt nước để đáp ứng Oxy hòa tan cho quá trình hô hấp; thả mật độ nuôi vừa phải cũng giúp kiểm soát Oxy hòa tan cho ao nuôi về đêm.

2. Sự khuyếch tán trực tiếp từ không khí vào nước: để tạo được sự khuếch tán Oxy vào nước tốt cần tách nước ra thành các hạt nhỏ hơn trong không khí (các hệ thống bơm phun nước tia mịn trong không khí chẳng hạn….).

3. Gió và sóng nước (ao tĩnh lượng Oxy hòa tan luôn kém hơn ao có dòng chảy và tạo sóng).

4. Sục khí cơ học (sục khí cơ học phải thông qua hệ thống venturi để tăng bề mặt tiếp xúc của khí và nước).

5. Cung cấp nguồn nước mới giàu oxy hòa tan (định kỳ châm nước mới cho ao nuôi sau khi tôm nuôi được 30 ngày).

Nhiều loại máy tạo khí được sử dụng cho ao nuôi tôm với mục đích là tạo ra lực khuếch tán oxy trong không khí vào nước.

Máy quạt nước bằng cách tách nước ra thành các giọt nước nhỏ để gia tăng sự tiếp xúc không khí với nước.

Các loại máy thổi khí vào nước cần có hệ thống Venturi để ép khí nhằm gia tăng sự tiếp xúc của không khí vào nước để tăng khả năng hòa tan của oxy khi được thổi vào nước.

Cách khác để gia tăng oxy hòa tan là dùng bơm tuần hoàn nguồn nước oxy hòa tan này trong ao.

Các nguồn gây cạn kiệt Oxy hòa tan trong ao:

Hiểu biết các nguồn tiêu thụ Oxy hòa tan chủ yếu trong ao sẽ giúp bà con nuôi tôm kiểm soát tốt hơn nguồn Oxy hòa tan cho tôm nuôi. Các nguồn gây cạn kiện Oxy hòa tan trong ao bao gồm:

– Nguồn dinh dưỡng và chất thải hữu cơ trong ao quá nhiều sẽ làm bùng nổ mật độ tảo gây thiếu hụt Oxy hòa tan về đêm.

– Tảo chết gây thiếu hụt Oxy hoa tan do quá trình phân hủy xác tảo cần Oxy cũng như xác tảo chết sẽ làm gia tăng mật độ vi khuẩn càng làm cạn kiệt Oxy hòa tan do vi khuẩn tiêu thụ.

– Thời tiết nóng kéo dài làm Oxy hòa tan vào nước kém hơn. Nhiệt độ nước từ 32 oC kéo dài nhiều ngày sẽ gây stress cho tôm và làm chậm tăng trưởng.

Ví dụ: ở cùng độ mặn nước biển, người ta đo được lượng oxy hòa tan khác nhau ở các nhiệt độ khác nhau như sau:

+ Nhiệt độ 12 oC: Oxy hòa tan 11,3 mg/L

+ Nhiệt độ 22 oC: Oxy hòa tan 8,9 mg/L

+ Nhiệt độ 32 oC: Oxy hòa tan 7,3 mg/L

– Sự phân tầng của nước xảy ra do mưa nặng hạt kéo dài nhiều ngày hoặc do gió mạnh.

– Thả mật độ nuôi quá cao và cho ăn qua nhiều.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-nguon-tao-oxy-hoa-tan-va-tieu-thu-oxy-hoa-tan-trong-ao-nuoi-36639.html

Ảnh hưởng của phèn và công nghệ xử lý

A / Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi tôm công nghiệp nói riêng thì sự ảnh hưởng của phèn trong quá trình nuôi là một vấn đề cấp bách và gây hậu quả không nhỏ đến sự phát triển và tăng trưởng của đối tượng nuôi tôm cá,…

Ảnh hưởng của phèn và công nghệ xử lý

Vậy vùng đất nhiễm phèn được sinh ra như thế nào?

Quá trình hình thành đất phèn là do các chất hữa cơ tích tụ và bị phân hủy trong điều kiện yếm khí bởi chủng loại vi khuẩn khử sunfua, chúng chuyển hóa các hợp chất lưu huỳnh (trong thực vật, trong đất, trong nước…vv..) thành dạng khí sunfua hydro (H­­­­2S) , khí này xâm nhập vào nước ngầm và kết hợp với sắt (II) tạo thành sắt sunfua và tiếp tục chuyển hóa thành sắt bisunfua (pyrit,FeS2) dạng tinh thể với phản ứng minh họa sau:

2CH2O (hữa cơ) + SO42- → H2S + 2HCO3-

Fe(OH)2 + H2S → FeS + H2O

FeS + S → FeS2 (pyrit)

Để có thể biết được vùng đất có bị nhiễm phèn hay không ta cần chú ý như sau: Đất nhiễm phèn thường nền đất có màu xám đen, nhất là nơi giàu chất khoáng pyrit (FeS2). Mật độ và phân bố của các khoáng pyrit đủ để hình thành một tầng sinh phèn (sulfidic). Ngoài ra, trong phèn tiềm tàng có thể có nhiều hợp chất khác như H2S,các ôxit Fe,Al,các hợp chất hữu cơ….

B/ TẠI SAO PHẢI KHỬ PHÈN TRONG AO NUÔI?

I/ Ảnh hưởng của đất phèn đối với động vật thủy sản.

1/ Ảnh hưởng chung.

–          Đất phèn thường có PH rất thấp, độ kiềm thấp vì vậy ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình cân bằng áp suất thẩm thấu và tạo vỏ của các loài giáp xác đặc biệt là tôm nuôi.

–          Ảnh hưởng và làm mất chức năng hoạt hóa của các enzyme trong cơ thể động vật thủy sản nói chung.

–          Ảnh hưởng đến quá trình hô hấp . Tôm cá sống trong vùng đất nhiễm phèn thì quá trình hô hấp tăng cao vì khả năng gắn kết giữa oxy và hemoglobin giảm do đó sẽ tiêu hao nhiều năng lượng cho quá trình hô hấp,giảm sức tăng trưởng,sinh sản ….

–          PH thấp làm cho độc tố H2S trở nên nguy hiểm hơn,xâm nhập trực tiếp qua màng tế bào,ức chế quá trình trao đổi chất,ức chế quá trình chuyển hóa oxy….

–          Khi ao nhiễm phèn pH thấp thì các ion như Fe2+, Al3+ sẽ kết hợp với photpho (có trong phân lân) tạo thành hợp chất khó tan,hạn chế dinh dưỡng cho tảo phát triển gây nên hiện tượng khó gây màu nước ao nuôi.

2/ Ảnh hưởng trực tiếp đến tôm nuôi ở ao bị nhiễm phèn:

–          Tôm bị mềm vỏ kéo dài. Ao bị nhiễm phèn lượng canxi và khoáng chất cần thiết cho quá trình tạo vỏ luôn bị thiếu hụt. Vì vậy việc bổ sung vôi vào những ao bị phèn cần một lượng rất lớn và hợp chất tạo thành là thạch cao không có lợi nhiều cho ao nuôi.

–          Tôm lột xác không hoàn toàn dẫn đến tỷ lệ sống rất thấp.

–          Tôm chậm lớn ,màu sắc kém. Trong môi trường ao nuôi bị nhiễm phèn,pH thấp sẽ có tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với các ao khác không nhiễm phèn, sắc tố kém…quá trình hô hấp với tần suất cao làm tôm tiêu hao năng lượng lớn, các hoạt động của enzyme ngừng trệ, hấp thu khoáng chất kém dẫn đến khả năng tăng trưởng của vật nuôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

–          Ao bị nhiễm phèn rất khó gây màu nước.

II/ Trước sự ảnh hưởng nghiêm trọng của vùng đất nhiễm phèn đối với động vật thủy sản (tôm,cá) công ty TNHH SANDO đã nghiên cứu và sản xuất thành công sản phẩm khử phèn đặc biệt và hiệu quả đó là khử phèn bằng công nghệ “visinh khử phèn” với tên thương mại là PONDOZY KP và CITYBIOZY KP .

PONDOZY KPCITYBIOZY KP là dòng sản phẩm vi sinh đặc biệt, có chức năng khử phèn rất hiệu quả được khách hàng nuôi hân hoan đón nhận và đã một phần nào đóng góp cho sự thành công của người nuôi nói riêng , cho sự phát triển nuôi trồng thủy sản ở những vùng đất nhiễm phèn nói chung.

C/ QUI TRÌNH XỬ LÝ AO NUÔI BỊ NHIỄM PHÈN.

Xây dựng và cải tạo ao đối với vùng đất nhiễm phèn cần chú ý khoáng pyrite sắt rất dễ xảy ra oxy hóa để tạo ra hợp chất sắt hydroxit và giải phóng ion H+ làm cho nước ao có pH thấp, nước ao bị phèn đỏ rất khó gây màu.

Điều này chứng tỏ rằng với cách xử lý phèn lâu nay là hạn chế phơi đáy ao quá lâu,và dùng phương pháp cải tạo ướt để tránh trường hợp xì phèn tiềm tàng trong đất ao nuôi.

Nay công ty SANDO đã nghiên cứu và ứng dụng thành công sản phẩm vi sinh khử phèn PONDOZY KP và CITYBIOZY KP với cách làm như sau:

++/ Cải tạo trước khi thả tôm.

Bước 1: Theo phương pháp truyền thống thì những ao bị nhiễm phèn không nên cải tạo khô mà chỉ cải tạo ướt vì vậy mà có nhược điểm là không khoáng hóa được hoàn toàn đáy ao.Với sản phẩm PONDOZY KP hoặc CITYBIOZY KP chúng ta có thể cải tạo khô mà không sợ bị ảnh hưởng của phèn trong ao.

Bước 2 : Sau khi phơi ao 2-3 ngày (mục đích để cho xì tối đa phèn tiềm tàng trong ao) ta tiến hành cho nước vào ao khoảng 20-30 cm và sử dụng PONDOZY KP hay CITYBIOZY KP với liều lượng 200g/1000 m2 bề mặt nước ngâm 2-3 ngày rồi xả bỏ.

Bước 3 : Cấp nước vào ao nuôi đạt 1,2m trở lên (đối với ao nuôi tôm sú) 1,4m trở lên (đối với ao nuôi tôm thẻ) hoàn chỉnh ta tiến hành diệt tạp và sát trùng nguồn nước bởi WELL SAPONIN, WUNMID hay GUARSA….

Bước 4 : Tiến hành khử phèn và gây màu nước.

Ngày thứ nhất:

–          Sáng ( từ 7-8h) dùng PONDOZY KP hoặc CITYBIOZY KP 250g/1000m3 nước ao, pha và khuấy đều trong 20-50 lit tạt đều khắp ao. Mục đích phân cắt và giải phóng phèn nhanh chóng,hỗ trợ tăng kiềm, ổn định pH.

–          Chiều ( từ 15-16h) dùng TOXINPOND + hay ETADO 1kg/1000m3 nước mục đích kết lắng nhanh váng phèn ,khử kim loại nặng và dễ gây màu nước.

Ngày thứ 2:

Sử dụng 10kg SD superALKALINE + 20kg Dolomite ngâm 24h tạt vào 8-9h đêm cho 1000m3 nước mục đích tăng kiềm và ổn định hệ đệm cho ao nuôi.

Ngày thứ 3:

Lập lại sử dụng của ngày thứ 2 nếu kiềm vẫn thấp <80 và tiến hành xử lý vi sinh trước khi thả tôm.

***/ Lợi ích của việc sử dụng PONDOZY KP hay CITYBIOZY KP :

–          Khử phèn nhanh chóng và hiệu quả cho ao nuôi.

–          Ổn định pH và hỗ trợ tăng kiềm cho ao nuôi.

–          Tạo điều kiện thuận lợi cho tảo lục, tảo khuê phát triển và dễ gây màu.

–          Phân hủy nhanh các chất hữu cơ và làm sạch nước ao nuôi,sạch nhớt bạt đối với ao lót bạt trong quá trình nuôi.

++/ Trong quá trình nuôi:

Nên sử dụng định kỳ PONDOZY KP hay CITYBIOZY KP 7-10 ngày/lần với liều lượng 100g/1000m3 nước để đạt được hiệu quả như mong muốn.

***/ Lưu ý: Không nên dùng phân lân để khử phèn bởi vì trong phân lân thành phần phốt pho cao dễ làm bùng phát sự phát triển của tảo độc như tảo lam, tảo sợi, tảo giáp trong quá trình nuôi và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự biến đổi môi trường ao nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/anh-huong-cua-phen-va-cong-nghe-xu-ly-36647.html

Nhu cầu khoáng của tôm thẻ chân trắng

Tuy nhiên các chất kháng dinh dưỡng đặc biệt là phytate có trong nguyên liệu thực vật có khả năng liên kết chặc chẽ với các muối khoáng canxi, magiê, sắt và kẽm làm giảm độ tiêu hóa các khoáng chất gây thiếu khoáng cho tôm nuôi.

Nhu cầu khoáng của tôm thẻ chân trắng

Khoáng chất đóng vai trò quan trong thành phần dinh dưỡng của các loài động vật thủy sản, nhất là trong mô hình nuôi tôm thâm canh sử dụng thức ăn công nghiệp. Việc bổ sung các khoáng chất không những giúp cho tôm nuôi khỏe mạnh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng miễn dịch.

PHÂN LOẠI:

Khoáng bao gồm các nguyên tố vô cơ cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm. Căn cứ theo nhu cầu khoáng được chia làm 2 nhóm đa lượng và vi lượng:

Nhóm khoáng đa lượng bao gồm: Canxi (Ca), Magie (Mg), Photpho (P), Na (Natri), Kali (K), Chloride (Cl),…

Chức năng chung của các khoáng chất bao gồm các thành phần của bộ xương ngoài, cân bằng áp suất thẩm thấu, tham gia vào các thành phần cấu trúc của các mô, truyền xung động thần kinh và co cơ.

Khoáng chất đóng vai trò như thành phần thiết yếu cho các enzyme, vitamin, hormone, sắc tố, yếu tố đồng vận chuyển trong quá trình chuyển hóa, chất xúc tác, và hoạt hoá enzyme.

Tôm có thể hấp thụ hoặc bài tiết khoáng chất trực tiếp từ môi trường nước qua mang và bề mặt cơ thể. Vì vậy, yêu cầu khoáng chất trong chế độ ăn phần lớn phụ thuộc vào nồng độ khoáng chất trong môi trường nước nuôi tôm.

* Canxi (Ca), Photpho (P):

Đối với tôm Ca và P cần thiết cho quá trình hình thành vỏ kitin. Ca còn tham gia vào quá trình động máu, co cơ, dẫn truyền thông tin thần kinh, duy trì áp suất thẩm thấu.

P còn có vai trò trong quá trình biến dưỡng các chất dinh dưỡng trong cơ thể, tham gia vào cấu trúc phosphate hữu cơ như: nucleotide, phospholipid, coenzyme, DNA, các acid nhân và tham gia trực tiếp vào các phản ứng tạo năng lượng của tế bào.

P vô là thành phần của hệ thống đệm, để duy trì pH dịch tế bào và ngoại tế bào P hầu như chỉ được lấy từ thức ăn đặc biệt trong mô hình nuôi thâm canh P là yếu tố cần được bổ sung vào thức ăn. Dấu hiệu thiếu P là sinh trưởng chậm, hiệu quả sử dụng thức ăn và hàm lượng khoáng trong vỏ giảm.

Ngoài ra thiếu P cũng ảnh hưởng tới các thành phần khác trong cơ thể như tăng lượng lipid và giảm lượng nước.

Lượng P hấp thụ từ thức ăn thay đổi theo hàm lượng và trạng thái tồn tại của P có trong thức ăn. Đồng thời sự hấp thụ P còn lệ thuộc vào hàm lượng Ca có trong thức ăn. Sự gia tăng P trong thức ăn sẽ làm gia tăng mức độ tích luỹ Ca và P trong cơ thể cá.

* Magie (Mg): rất quan trọng trong sự cân bằng bên trong và ngoài tế bào của tôm. Mg tham gia vào quá trình hô hấp tế bào và những phản ứng truyền dẫn phosphate. Mg có vai trò quan trọng trong một số hệ thống enzyme kích hoạt cho tất cả các phản ứng trong quá trình trao đổi chất lipid, carbohydrate và protein cung cấp năng lượng cho tôm.  Nếu thiếu Mg tôm thẻ dễ bị đục cơ và cong thân, mềm vỏ, tình trạng này kéo dài ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và làm chết tôm.

Trong tự nhiên tôm có thể hấp thu lượng lớn khoáng từ nước biển như Ca, Na, Cl, và Mg. Tuy nhiên ở điều kiện nuôi công nghiệp mật độ cao, độ mặn tương đối thấp hầu như không lấy được Ca, Mg từ môi trường nên thức ăn của những loại các này cần lưu ý vì hàm lượng Ca, P, Mg trong thức ăn thấp sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng làm cho tôm chậm lớn, tôm lột khó cứng vỏ, gây ra hiện tượng đục cơ và cong thân thường thấy trong quá trình nuôi tôm thẻ.

* Các khoáng đa lượng khác: Na+, Cl- và K+ tham gia vào quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu, hoạt động enzyme Na+/K+ ATPase trong tế bào, cần bằng acid – bazơ, duy trì cấu trúc màng tế bào. Na+ có chức năng trong dẫn truyền xung động thần kinh cơ dẫn truyền thần kinh. K+ có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của tôm. Tôm thẻ chân trắng có biểu hiện biếng ăn, hoạt động kém, tăng trưởng chậm, thậm chí chết khi thiếu K+.

Nhóm khoáng vi lượng bao gồm: nhôm (Al), Coban (Co), Chrom (Cr), đồng (Cu), Flo (F), Iod (I), Sắt (Fe), Mangan (Mn), Selenium (Se), Silic (Si), Niken (Ni), Kẽm (Zn),…

* Đồng (Cu )

Là thành phần nhiều enzyme có tính oxy hoá và có vai trò quan trọng trong sự hô hấp, cần thiết cho sự lột xác và tăng trưởng của tôm, là thành phần của sắc tố đen (Melanin), và hemocyanin trong máu tôm. Thiếu Cu làm tôm sinh trưởng chậm, làm giảm hàm lượng Cu trong máu, gan tụy, tôm dễ nhiễm bệnh.

* Kẽm (Zn)

Kẽm là thành phần dinh dưỡng thiết yếu cần cho quá trình trao đổi chất bao gồm tăng trưởng, phát triển và miễn dịch không đặc hiệu của tôm, là thành phần cấu tạo enzyme Carbonicanhydrase (xúc tác phản ứng hydrat hoá) làm tăng khả năng vận chuyển CO2 và kích thích tiết HCl trong dạ dày. Khi thiếu Zn tôm giảm bắt mồi, giảm tăng tưởng, mòn phụ bộ, còi, và giảm sức sinh sản, giảm sức sống.

* Mangan (Mn):

Mn là một thành phần cần thiết của một số enzyme như pyruvate carboxylase, lipase hay là thành phần cấu thành enzyme trong chuyển hóa protein, lipid và carbohydrate. Sự hấp thu Mn từ môi trường nước rất thấp. Sự thiếu hụt Mn làm giảm bắt mồi, giảm tăng trưởng, còi cọc, thân ngắn, đuôi bất thường, dễ bị dị hình, tăng tỷ lệ chết.

* Selenium (Se):

Se là khoáng chất cần thiết cho tôm. Trong cơ thể Se và vitamin E tham gia vào quá trình trao đổi lipid. Se có chức năng chống lại quá trình tự ôxy hóa của lipid màng tế bào, là thành phần chính trong cấu thành enzyme glutathione peroxidase (GSH). Sự hấp thu Se từ môi trường nước rất thấp nên cần được cung cấp từ thức ăn, đặc biệt là thức ăn có hàm lượng lipid cao nhằm hạn chế quá trình ôxy hóa lipid trong thức ăn. Sự thiếu hụt Se làm giảm glutathione, tăng stress, giảm tăng trưởng, tăng tỷ lệ chết.

* Coban (Co): Vì tôm không thể tự sản xuất vitamin B12 nên trong khẩu phần ăn cần bổ sung Co làm chất dinh dưỡng cần thiết cho các vi sinh vật hỗ trợ tổng hợp vitamin B12 cho tôm nuôi.

* Sắt (Fe):

Sắt là thành phần dinh dưỡng thiết yếu cần cho chứ năng của tất cả các cơ quan và mô trong cơ thể.

Nhìn chung nhóm khoáng vi lượng cần với lượng rất ít tuy nhiên lại có vai trò quan trọng trong cấu tạo các nhóm chức của enzyme, hormone, điều hoà quá trình sinh tổng hợp protein,… ảnh hưởng một cách rõ rệt đến các quá trình trao đổi chất

Đặc biệt trong môi trường nuôi thâm canh, sự thay đổi môi trường, chất lượng nước cùng với các thực hành nuôi dẫn đến stress và có ảnh hưởng đến các quá trình sinh lý của cơ thể, làm thay đổi nhu cầu về khoáng vi lượng rất hữu ích cho việc giảm stress và tăng khả năng đề kháng bệnh của tôm nuôi.

Tuy nhiên khi hàm lượng khoáng vi lượng có khả năng gây độc hại như đồng, chì, cadmium, thủy ngân, asen, flo, selen, và vanadi cao cũng gây nguy hại cho sứ khỏe tôm nuôi như: giảm tăng trưởng, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, dị hình, tăng tỷ lệ chết,….

Bảng: Nhu cầu khoáng trong khẩu phần thức ăn của tôm (Cục Thủy Sản)

Nhóm khoáng đa lượng Nhu cầu của tôm (g/100g thức ăn)
Ca <3,0
P 2,0
Ca/P
K 1,1
Na/Cl
Na
Mg <0,3
Nhóm khoáng vi lượng Nhu cầu của tôm (mg/kg thức ăn)
Cu 32
Fe <100
Zn 120
Mn 60
Se 0,3
I 6
Co 1
Cr 1

NHU CẦU KHOÁNG CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

Nhu cầu khoáng của tôm thay đổi tùy theo dạng khoáng và độ hữu dụng sinh học của khoáng. Khoáng hòa tan thường được hấp thụ cao nhất ở dạng các ion hòa tan, những hợp chất khác trao đổi điện tử với khoáng hình thành nên các hợp chất bền, ít tan sẽ khó được hấp thụ.

Tôm thẻ là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh do tôm lột xác liên tục lại được nuôi theo mô hình thâm canh mật độ cao cho nên nhu cầu khoáng chất cũng rất cao.

Nếu trong ao có độ mặn thấp, hàm lượng Ca, Mg, P, Na… trong nước thấp, tôm hấp thụ khoáng không đủ đặc biệt trong quá trình sinh trưởng, tôm thẻ cần rất nhiều khoáng, do đó trong ao nuôi tôm thẻ nên luôn duy trì độ kiềm từ 100 mg/l trở lên bằng cách sử dụng vôi CaCO3.

Bên cạnh đó, phải thường xuyên tạt khoáng cho ao nuôi để tôm cứng vỏ dễ lột xác, giúp tôm tăng trưởng nhanh, hạn chế hiện tượng đục cơ và cong thân, mềm vỏ.

Tags: nuoi tom, con tom, thuy san, nuoi trong thuy san, ky thuat nuoi tom, tom the chan trang

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhu-cau-khoang-cua-tom-the-chan-trang-36655.html

Nhận xét về tiềm năng của Probiotics

Lợi ích của probiotic đối với sức khỏe con người và động vật đã được chứng minh trong hàng trăm nghiên cứu khoa học.

Nhận xét về tiềm năng của Probiotics

Lactobacillus và Bifidobacterium là những nhóm probiotic chính; tuy nhiên có những báo cáo về tiềm năng probiotic của các loài như PediococcusLactococcusBacillus và nấm men.

Một số dòng probiotic đã được xác định cho thấy tác dụng tốt trong chống viêm, chống dị ứng và các đặc tính khác.

Bên cạnh đó, việc sử dụng các sản phẩm từ sữa và không từ sữa cũng giúp kích thích hệ miễn dịch theo nhiều cách khác nhau.

Đa dạng các loại thực phẩm sử dụng chung với probiotics cũng đã được chứng minh bằng tài liệu. Trong bài nhận xét này sẽ nói qua về lịch sử của probiotic và các ứng dụng trong các lĩnh vực y tế và thực phẩm, cũng như xu hướng mới về các sản phẩm và quy trình sản xuất.

Probiotic là một từ khá mới có ý nghĩa ‘cho sự sống’, được dùng để gọi các loài vi sinh vật có liên quan đến các tác dụng có lợi cho người và động vật. Các loài vi sinh vật này giúp cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột và đóng vai trò trong việc duy trì sức khỏe.

Các loài lợi khuẩn probiotic bao gồm chủ yếu là các giống Lactobacillus và Bifidobacterium, nhưng các giống BacillusPediococcus và một số nấm men cũng đã được nhận thấy là các ứng cử viên thích hợp.

Chúng cùng nhau đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các loài vi sinh vật có hại và tăng cường miễn dịch cho vật chủ.

Có thể tìm thấy probiotic trong các sản phẩm từ sữa và không từ sữa.

Các sản phẩm này thường được dùng sau khi điều trị kháng sinh (đối với một số bệnh) làm mất đi hệ vi khuẩn trong đường tiêu hóa (cả các loài hữu ích và có hại được nhắm tới).

Việc thường xuyên sử dụng các thực phẩm có probiotic được khuyến khích để thiết lập một hệ vi khuẩn có lợi cân bằng trong hệ vi sinh vật đường ruột.

Probiotics (men vi sinh, lợi khuẩn) đã được nghiên cứu rộng rãi và khai thác về mặt thương mại trong nhiều sản phẩm đa dạng trên thế giới.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy probiotics đã chứng minh các tác dụng có lợi cho sức khỏe con người và động vật.

Nhiều nghiên cứu lâm sàng về probiotictập trung vào trẻ con, các lĩnh vực liên quan đến kháng sinh và bệnh tiêu chảy của người đi du lịch.

Các sinh vật không gây bệnh được sử dụng như probiotics bao gồm sự đa dạng của loài và phân loài, khả năng bám dính, chiếm cứ và điều chỉnh hệ tiêu hóa của con người không phải là một đặc tính phổ biến rộng rãi.

Lactobacillus và Bifidobacterium là các nhóm probioticchính, tuy nhiên có những báo cáo về tiềm năng probioticcủa nấm men.

Nghiên cứu tương lai phải tìm hiểu về các cơ chế mà hệ vi khuẩn đường ruột tương tác với các biểu mô ruột trong vấn đề sức khỏe và bệnh tật.

Nhờ kiến ​​thức này để có thể phát triển các dòng probiotic tối ưu.

Khả năng chịu đựng của probiotics là một thông số quan trọng cho việc phát triển các sản phẩm thực phẩm probiotic.

Các công nghệ mới đã được phát triển để có thể cho ra tế bào định lượng cao ở quy mô lớn và đảm bảo tính ổn định của probiotics trong thực phẩm ở một thời gian dài.

Với các công nghệ khác nhau như bao vi nang (microencapsulation), cố định tế bào (cell immobilization) và lên men liên tục (continuous fermentation), các dòng probioticssẽ trở thành một thành phần quan trọng và hữu dụng trong các loại thực phẩm chức năng, mở rộng các ứng dụng probiotics sang các ngành công nghiệp dược phẩm và thực phẩm bổ sung.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhan-xet-ve-tiem-nang-cua-probiotics-36662.html

Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Nuôi Tôm Chậm Lớn

Do vậy, người nuôi tôm cần chú ý các biện pháp kiểm soát để giảm thiệt hại và phát triển nghề nuôi tôm bền vững.

Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Nuôi Tôm Chậm Lớn

I.    NGUYÊN NHÂN

–         Chất lượng tôm giống kém.

–         Mật độ nuôi dày, sinh khối trong ao lớn.

–         Lạm dụng kháng sinh trong quá trình sản xuất giống, nuôi, …

–         Môi trường ao nuôi quản lí chưa tốt ( nguồn nước, đáy ao, chất hữu cơ lơ lững)

–         Sử dụng thức ăn kém chất lượng.

–         Tôm không hấp thu dinh dưỡng do bị rối loạn chức năng chuyển hóa

–         Bệnh MPV, bệnh HPV, bệnh vi bào tử trùng (AHP), hội chứng chậm lớn trên tôm sú (LSNV),bệnh do vi khuẩn Vibrio, vi khuẩn dạng sợi, bệnh đóng rong, bệnh phân trắng.

–         Nuôi tôm vào mùa lạnh

II.   BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

–         Tôm giống thả nuôi chọn mua ở các cơ sở có uy tín chất lượng, đạt yêu cầu thả nuôi ( kích cỡ với tôm sú PL 15, tôm thẻ PL 12) và phải có kiểm dịch của cơ quan có thẩm quyền.

–         Mật độ thả nuôi phù hợp

+ Thâm canh: tôm sú (15-20 con/ m2), tôm thẻ (50-60 con/m2)

+Quảng canh cải tiến: 5-6 con/ m2

–          Trong quá trình nuôi cần định kỳ sử dụng các chế phẩm sinh học và các sản phẩm dinh dưỡng tăng sức đề kháng: Các sản phẩm sau: BIOTICBEST, BIO AV, SAN ANTISHOCK, CALCIPHORUS, HEPAVIROL PLUS, DOSAL

–          Ổn định môi trường ao nuôi bằng cách quản lí tốt các yếu tố chất lượng nước ao nuôi (oxy hòa tan, pH, độ kiềm), sử dụng các sản phẩm vi sinh làm sạch mọi trường, thay nước định kỳ để cung cấp oxy và thức ăn tự nhiên cho tôm nuôi,duy trì chế độ quạt nước, mực nước hợp lý ( trên 1,2 m), quản lí thức ăn chặt chẽ, tránh thúc ăn dư thừa xuống đáy ao. Chọn các sản phẩm sau: AQUA BIO BZT, BACPOWER

–          Chọn thức ăn có chất lượng tốt, bảo quản đúng kỹ thuật, tính toán lượng thức ăn phù hợp và bổ sung premix chứa Vitamin tổng hợp và khoáng chất  vào trong thức ăn, như sản phẩm: Calciphorus, San Anti Shock

–          Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp trên tôm nuôi, khi xảy ra dịch bệnh cần tìm hiểu rõ nguyên nhân để đưa ra liệu trình điều trị phù hợp.

–          Tôm chậm lớn do rối loạn chức năng chuyển hóa, dẫn đến tôm không hấp thu dinh dưỡng khi được bổ sung: Sản phẩm: DOSAL

–          Người nuôi cần theo dõi thông tin về thời vụ thả giống cũng như giá tôm nguyên liệu để có định hướng thả nuôi phù hợp với mùa vụ, nguồn vốn và khả năng quản lí của người nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nguyen-nhan-va-cach-khac-phuc-nuoi-tom-cham-lon-36669.html

Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP) và việc duy trì an toàn sinh học trong nuôi tôm

Tuy nhiên có một số yếu tố chung khi đưa GAP áp dụng trong ao nuôi tôm. Ngoài ra cũng có rất nhiều ví dụ và tài liệu tham khảo về các quy trình thực hành quản lý tốt với một số nội dung như sau:

Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP) và việc duy trì an toàn sinh học trong nuôi tôm

Chuẩn bị ao, đáy ao và quản lý nước trước khi thả giống

–       Phơi khô ao trong thời gian hai tuần hoặc lâu hơn;

–       Vét bùn và chuyển bỏ bùn ra khỏi vùng ao nuôi;

–       Cày đất ướt nếu chưa dọn hết bùn;

–       Sử dụng túi lọc nước đôi kích cỡ mắt 300 µm;

–       Duy trì mực nước ít nhất là 80 cm ở phần nông nhất trong ao;

–       Ổn định nước trong vòng 10 – 15 ngày trước khi thả giống;

–       Bón vôi;

–       Bón phân;

–     Kiểm soát các loài không mong muốn (ví dụ như các loại cá, giáp xác, động vật thân mềm, động vật lưỡng cư, bò sát, chim và động vật có vú) bằng các phương pháp vật lý, hóa học và các phương tiện khác.

Chọn giống và thả giống

–       Sử dụng các phương pháp truyền thống và phương pháp phân tử để kiểm tra sức khỏe tổng quát con giống trước khi thả;

–       Chọn cỡ giống PL có kích thước đồng đều và đồng màu, nhanh nhẹn bơi ngược dòng nước;

–       Sử dụng formalin (100 ppm) gây stress khoảng 15 – 20 phút trong nước sục khí liên tục để loại bỏ PL yếu;

–       Ương PL trong ao vèo ngay tại khu nuôi khoảng 15 – 20 ngày;

–       Thả giống khi nước ao màu xanh và tránh nước trong;

–       Thả giống theo lịch thời vụ khuyến nghị của ban ngành chức năng;

–       Thả giống trong một khu nuôi vào cùng một thời điểm để tránh tác động tiêu cực của tôm ấu niên và trưởng thành đã nhiễm bệnh và chuyển bệnh đến những lô mới được thả.

Quản lý sau thả giống

–       Sử dụng các ao lắng và ổn định nước khoảng 10 – 15 ngày trước khi dùng cho các ao nuôi;

–       Sử dụng thường xuyên vôi nông nghiệp, đặc biệt là sau khi thay nước và mưa;

–       Không sử dụng bất kỳ loại hóa chất độc hại / cấm;

–       Sử dụng khay thức ăn để đảm bảo cho tôm ăn theo nhu cầu;

–       Sử dụng thuyền / thiết bị nổi để rải cho ăn khắp ao nhằm tránh tích tụ chất thải cục bộ;

–       Thường xuyên loại bỏ tảo đáy;

–       Theo dõi chất lượng nước để đảm bảo pH, độ kiềm và oxy hòa tan thích hợp;

–       Chỉ thay nước trong giai đoạn nguy cấp;

–       Hàng tuần kiểm tra bùn đáy ao để xem mức độ tích tụ chất thải hữu cơ đen và mùi hôi;

–       Chài tôm để theo dõi mức tăng trưởng.

Quản lý sức khỏe

–       Thường xuyên kiểm tra sức khỏe và hoạt động của tôm;

–       Chẩn đoán đúng khi sức khỏe của tôm có vấn đề;

–       Nếu tôm giống bị nhiễm bệnh Vibriosis thông thường thì nên giảm lượng thức ăn, đồng thời nên cải thiện chất lượng nước và đáy ao nếu cần thiết;

–       Nếu dịch bệnh xảy ra do một bệnh truyền nhiễm thì cần ngăn chặn nguy cơ lây lan dịch bệnh sang các trang trại khác (ví dụ như không xả nước, không di chuyển tôm đã nhiễm bệnh) và thông báo cho cơ quan chức năng;

–       Loại bỏ và xử lý an toàn tôm bệnh hoặc chết;

–       Thu hoạch khẩn cấp sau khi có quyết định thích hợp;

–       Không tháo cạn hoặc để mặc tôm đã bị bệnh/nhiễm;

–       Hủy bỏ tôm đã nhiễm bệnh theo cách thích hợp.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/thuc-hanh-nuoi-trong-thuy-san-tot-gap-va-viec-duy-tri-an-toan-sinh-hoc-trong-nuoi-tom-36676.html

Đánh giá in vitro các sản phẩm men vi sinh thương phẩm được sử dụng cho nuôi tôm biển ở Thái Lan

Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của 12 sản phẩm men vi sinh thương phẩm ở Thái Lan được sử dụng trong nuôi tôm biển căn cứ trên hai tiêu chí cụ thể là độ chính xác của các thông tin trên nhãn sản phẩm liên quan đến định lượng và định loài vi sinh vật, mức chấp nhận về định lượng vi sinh vật probiotic 106 CFU/g trong các sản phẩm.

Trong số 12 sản phẩm lấy mẫu, chỉ có hai trong số đó cung cấp đầy đủ thông tin về định lượng và thành phần của vi sinh vật cũng như liều lượng đúng cách.

Ngoài ra, không có sản phẩm men vi sinh nào có định lượng và thành phần vi sinh vật chính xác hoặc có phẩm chất enzym ngoại bào công bố trên nhãn cũng như không cho thấy bất kỳ tác dụng ức chế in vitro nào với vi khuẩn gây bệnh Vibrio harveyi trên tôm. Tuy nhiên, một số sản phẩm có khả năng sinh tổng hợp amylase, protease và lipase ở mức cao.

Bảng 1. Tổng định lượng vi khuẩn dị dưỡng trong các sản phẩm men vi sinh thương phẩm được kiểm nghiệm so với định lượng công bố trên nhãn (ND: không có số liệu)

Men vi sinh

thương phẩm

 

Nước sản xuất

 

Tổng số vi khuẩn

dị dưỡng hiếu khí

đếm được (CFU/g)

Tổng số vi khuẩn

dị dưỡng hiếu khí

ghi trên nhãn (CFU/g)

Sản phẩm 1

Sản phẩm 2

Sản phẩm 3

Sản phẩm 4

Sản phẩm 5

Sản phẩm 6

Sản phẩm 7

Sản phẩm 8

Sản phẩm 9

Sản phẩm 10

Sản phẩm 11

Sản phẩm 12

Thailand

Thailand

Trung Quốc

Thailand

Trung Quốc

Thailand

Thailand

Thailand

Thailand

Thailand

Mỹ

Thailand

8,57 x 104

2,07 x 104

1,26 x 104

8,23 x 103

4,43 x 103

6,13 x 102

2,50 x 105

1,26 x 108

7,55 x 107

1,70 x 107

1,30 x 109

1,10 x 106

109

109

109

109

109

109

ND

ND

109

ND

109

ND

Bảng 2. Thành phần loài vi khuẩn trong các sản phẩm men vi sinh thương phẩm được kiểm nghiệm so với công bố trên nhãn

Bảng 3. Loài vi khuẩn Bacillus trong các sản phẩm men vi sinh thương phẩm được kiểm nghiệm

Điều tra này cho thấy rằng chỉ có hai (sản phẩm 9 và 11) trong số 12 sản phẩm men vi sinh thương phẩm được kiểm nghiệm có định lượng vi sinh vật probiotic ( men vi sinh, men tiêu hóa ) khuyến nghị dùng cho nuôi tôm và cung cấp nhãn có thông tin về định lượng sản phẩm cũng như thành phần của vi sinh vật đúng.

Hơn nữa, một số sản phẩm men vi sinh thương phẩm được kiểm nghiệm có khả năng sản sinh amylase, protease và lipase cao, không có sản phẩm nào cho thấy có tác dụng ức chế in vitro đối với V. harveyi.

Hiệu quả của các sản phẩm men vi sinh thương phẩm đã kiểm nghiệm trong nghiên cứu này được xác định trong điều kiện in vitro, tuy nhiên, hiệu quả của các sản phẩm men vi sinh này khi được sử dụng ở hoàn cảnh thực tế liên quan trực tiếp đến điều kiện nuôi trồng thủy sản có thể không phù hợp với điều kiện in vitro.

Subuntith Nimrat1 and Verapong Vuthiphandchai2

1Chương trình Khoa học Môi trường và Vi sinh học, Khoa Khoa học, Đại học Burapha, Chon Buri, 20131, Thái Lan.

2Khoa Khoa học Thủy sản, Chuyên ngành Khoa học, Đại học Burapha, Chon Buri, 20131, Thái Lan.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/danh-gia-in-vitro-cac-san-pham-men-vi-sinh-thuong-pham-duoc-su-dung-cho-nuoi-tom-bien-o-thai-lan-36683.html

Nuôi tôm bằng vi sinh tiết kiệm mà hiệu quả

Vậy sự lựa chọn men vi sinh nào là thích hợp? Theo thành phần hoặc theo hàm lượng, uy tín của nhà sản xuất, liều dùng mỗi lần và chi phí cả vụ, giá cả và dịch vụ tư vấn, qua kinh nghiệm truyền nhau, sản phẩm sản xuất trong nước hay là nhập khẩu? Câu trả lời sẽ là tất cả những quan tâm trên đây.

Nuôi tôm bằng vi sinh tiết kiệm mà hiệu quả

Giữa vô số các loại men vi sinh trên thị trường hiện nay, có lẽ người nuôi nên “tỉnh táo” để lựa chọn, đừng bị choáng ngợp bởi sản phẩm có đa dạng thành phần ở mức “số mũ to” hoặc liều sử dụng thấp, ngôn từ hoa mỹ về công dụng sản phẩm hay là giá cả thấp và chiết khấu cao.

Ưu tiên lựa chọn nên là kinh nghiệm truyền nhau, uy tín của nhà sản xuất / công ty phân phối và trên hết là trải nghiệm thực tế tại chính ao nuôi của mình.

Thực chất, có nhiều sản phẩm với thành phần và định lượng “khủng” nhưng khi xử lý tại ao không mấy tác dụng hoặc phải tăng liều gấp hai hoặc ba lần so với hướng dẫn sử dụng mà kết quả vẫn không như mong đợi

. Ngay cả khi đếm đủ định lượng vi khuẩn thì cũng chưa chắc là sản phẩm sẽ có hiệu quả trong môi trường ao nuôi thực tế vì phụ thuộc vào khả năng sống và phạm vi hoạt động / kiểm soát của từng loài / dòng vi sinh, lượng oxy, thông số lý hóa của đất và nước, tỉ lệ chất nền hữu cơ trong ao.

Bí quyết của một sản phẩm men vi sinh tốt sẽ ở kỹ thuật công nghệ nuôi cấy vi sinh của nhà sản xuất để đảm bảo các dòng vi khuẩn có lợi hoàn toàn tự nhiên, không biến đổi gien và chất lượng ổn định. Một số dòng vi khuẩn có lợi có khả năng kiểm soát tốt các thành phần dinh dưỡng trong cột nước để duy trì mật độ tảo ở mức thích hợp và hạn chế tảo độc phát triển, hoặc để ngăn ngừa các loại vi khuẩn hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao.

Đối với đáy ao có siphon hoặc không có siphon cũng rất cần những dòng vi khuẩn mạnh để kiểm soát sự tích tụ đáy ao, hạn chế quá trình yếm khí trong ao, giảm các loại khí độc (NH3, H2S) và hơn thế nữa là có thể hình thành các protein vi khuẩn và các floc để làm nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho tôm. Vì thế, người nuôi nên sử dụng kết hợp sản phẩm men vi sinh xử lý đáy và nước để kiểm soát môi trường ao nuôi tốt hơn.

Người nuôi cũng nên lựa chọn các nhà sản xuất có uy tín, chuyên nghiệp và công nghệ vi sinh tiên tiến. Men vi sinh chính là những vi khuẩn sống nên đòi hỏi quy mô thiết bị hiện đại để sản xuất được các sản phẩm thực sự chất lượng cao và ổn định. Ngoài ra, các nhà sản xuất chuyên nghiệp còn có khả năng truy xuất nguồn gốc mọi thành phần trong sản phẩm từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng.

Song song với hiệu quả xử lý của sản phẩm, người nuôi tất nhiên sẽ lưu tâm tính toán đến liều lượng xử lý và chi phí toàn bộ vụ nuôi. Mỗi đợt xử lý đều phải tăng liều và/ hoặc thời gian xử lý định kỳ ngắn ngày hơn thì sản phẩm giá rẻ sẽ trở thành quá đắt khi tính trên cả vụ nuôi, chưa nói đến rủi ro nếu môi trường nuôi không được xử lý kịp thời ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và chất lượng tôm nuôi.

Khi đã chọn được một sản phẩm vi sinh tốt, người nuôi cũng cần quan tâm đến cách dùng sản phẩm: tính toán liều chính xác, định kỳ xử lý hoặc chia liều định kỳ nhỏ lại hoặc tăng liều tùy theo điều kiện thông số môi trường và quy trình cho ăn.

Thường xuyên theo dõi khay thức ăn và kiểm tra bùn đáy ao để xử lý liều vi sinh thích hợp.

Môi trường đáy ao biến động xấu, tôm sẽ ăn nhiều thức ăn trong khay, nên người nuôi có thể cho ăn nhiều hơn hoặc tăng cữ ăn sẽ làm môi trường tệ hơn, khi đó phải tăng liều vi sinh thì sẽ tốn chi phí hơn và lãng phí thức ăn.

Cũng sẽ rất mất thời gian và lãng phí khi dùng liều vi sinh quá cao có thể gây sụp tảo, mất cân bằng môi trường gây căng thẳng cho thủy sản nuôi.

Ở các ngày nhiệt độ cao hoặc mưa liên tục thì cần điều chỉnh tăng liều vi sinh thích hợp để tảo không phát triển quá dày.

Không sử dụng vi sinh cùng lúc với hóa chất và kháng sinh, vì hóa chất và kháng sinh sẽ làm chết hoặc làm mất tác dụng của vi sinh. Nếu đã sử dụng hóa chất và kháng sinh trong ao thì khoảng 2 – 3 ngày sau nên sử dụng vi sinh để khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong ao để cải thiện chất lượng nước và đáy ao.

Đa phần các sản phẩm vi sinh ở dạng bột, người nuôi nên cân trọng lượng liều phù hợp với đối tượng nuôi, mật độ và diện tích / thể tích ao nuôi. Cách sử dụng men vi sinh dạng bột là nên cho vào chậu một ít nước trước khi đổ sản phẩm vào để hạn chế bị gió tạt, khuấy đều và tạt khắp ao.

Thời gian xử lý vi sinh tốt nhất là lúc trời nắng và khi môi trường trong ao đã đủ lượng oxy hòa tan để các dòng vi khuẩn nhanh chóng được khởi động và nhân rộng sinh khối.

Có một quan niệm nên thay đổi về cách sử dụng men vi sinh là việc không sử dụng trước khi thả giống và sau khi thu hoạch, sử dụng loại men chất lượng trung bình, cắt giảm liều ở giai đoạn nuôi đầu vụ thì đều không thích hợp.

Môi trường ao nuôi trước khi thả giống đã được cải tạo và diệt khuẩn kỹ nên rất cần liều vi sinh mầm đầu tiên để nhân rộng sinh khối vi khuẩn có lợi đủ để lấn át vi khuẩn có hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao, đồng thời duy trì sử dụng vi sinh trong suốt quá trình nuôi để tạo môi trường thuận lợi nhất cho tôm phát triển.

Mặt khác, sau khi thu hoạch, ao nuôi còn lại rất nhiều các chất thải, cặn bã, phân tôm, xác tảo, bùn đen, mùi hôi thối, … cho nên cần sử dụng vi sinh để xử lý nước và đáy ao trước khi xả thải ra môi trường nhằm duy trì cho ao nuôi / vùng nuôi an toàn sinh học và bền vững ở các vụ tiếp theo.

Nên lưu ý rằng chi phí xử lý sự cố / rủi ro biến động môi trường hoặc phục hồi môi trường thì rất tốn kém, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tỉ lệ sống của tôm hoặc thủy sản nuôi. Men vi sinh không phải là liều thuốc tiên, nên không thể khi nào có sự cố môi trường thì mới sử dụng.

Cần định kỳ xử lý vi sinh để duy trì một mật độ vi khuẩn thích hợp nhằm kiểm soát sinh học môi trường nước và đáy ao, ổn định các điều kiện mong muốn trong môi trường nuôi trồng, ngăn ngừa và lấn át các loài vi khuẩn gây bệnh, tảo độc và mầm bệnh tiềm tàng trong ao

. Người nuôi nên áp dụng quy trình xử lý vi sinh trước, trong và sau mỗi vụ nuôi.

Men vi sinh nên được bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp, nóng và nơi ẩm thấp. Nếu sử dụng không hết gói thì gói kín phần còn lại, cần tránh ẩm để không bị đóng vón.

Tóm lại, chọn một loại men vi sinh tốt sử dụng đúng cách kết hợp trong quy trình nuôi an toàn sinh học sẽ giúp người nuôi quản lý và theo dõi môi trường nuôi thuận lợi hơn và đảm bảo an toàn sức khỏe cho tôm và thủy sản nuôi khác.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-bang-vi-sinh-tiet-kiem-ma-hieu-qua-36692.html

Lợi ích sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Nhưng gần đây việc sử dụng chúng để điều trị bệnh cho các đối tượng nuôi thường không đạt hiệu quả cao, do một trong số các nguyên nhân sau:

Lợi ích sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Lạm dụng trong điều trị hoặc sử dụng nhiều lần với liều lượng thấp gây ra lờn thuốc đối với vi khuẩn gây bệnh, hoặc do sử dụng không đúng cách hình thành một số gen kháng thuốc tồn tại trong vi khuẩn gây bệnh.

Gần đây, xuất hiện một số mô hình nuôi tôm sạch sử dụng chế phẩm sinh học thay thế hóa chất, kháng sinh đem lại hiệu quả cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản.

Tuy nhiên, chế phẩm sinh học không có tác dụng trong điều trị bệnh nhưng giúp cải thiện chất lượng nguồn nước ao nuôi, trộn vào thức ăn để hỗ trợ tiêu hóa cho động vật  thủy sản.

Chế phẩm sinh học (men vi sinh) là các nhóm vi sinh vật ( là những loài vi khuẩn sống có lợi) như nhóm: Bacillus spp, Lactobacillus spp, Nitrosomonas spp, Nitrobacter spp, hoặc trong thành phần có chứa các enzyme (men vi sinh) như: Protease, Lipase, Amylase.

Một số nhà sản xuất còn phối trộn vi khuẩn có lợi và men vi sinh hoặc bổ sung thêm một số vitamin nhằm tăng cường sức đề kháng cho động vật thủy sản. Khi đưa chế phẩm sinh học vào môi trường nước ao nuôi, chúng ta cần phải kích hoạt và làm tăng sinh khối các vi khuẩn có lợi để chúng hoạt động và tăng mật độ.

Sự tăng sinh sẽ tạo ra một số lượng lớn vi khuẩn hoạt động trong môi trường ao nuôi và đem đến một số lợi ích như:

– Phân hủy các chất hữu cơ trong nước, hấp thu xác tảo chết và làm giảm lớp bùn ở đáy ao. – Giảm các độc tố trong môi trường nước do các chất khí:

NH3, H2S…phát sinh, do đó giảm mùi hôi trong nước, giúp tôm cá phát triển tốt.

–  Năng cao khả năng miễn dịch của động vật thủy sản.

– Ức chế sự hoạt động và phát triển của các vi khuẩn có hại do quá trình tăng sinh làm cho số lượng vi khuẩn có lợi tăng lên lấn át và kìm hảm hãm sự phát triển của các vi khuẩn gây hại, do đó hạn chế mầm bệnh phát triển.

Cần bổ xung chế phẩm sinh học định kỳ vào ao nuôi nhằm đảm bảo vi khuẩn có lợi tồn tại trong ao với số lượng lớn và để phòng bệnh cho động vật thủy sản.

– Ổn định pH của nước, ổn định màu nước do chế phẩm sinh học hấp thu chất dinh dưỡng hòa tan trong nước hạn chế tảo phát triển nhiều, giảm chi phí xử lý nước trong quá trình nuôi, tăng oxy hòa tan trong nước giúp động vật thủy sản khỏe mạnh và phát triển.

Khi trộn chế phẩm sinh học(men vi sinh, men tiêu hóa) vào thức ăn có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, giúp hấp thu tốt thức ăn, làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn (giảm hệ số thức ăn), thúc đẩy tăng trưởng.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/loi-ich-su-dung-che-pham-sinh-hoc-trong-nuoi-trong-thuy-san-36698.html