Tag Archives: bệnh trên tôm thẻ

Giải pháp phòng chống hội chứng tôm chết sớm (EMS)

Tại hội thảo này, các nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như doanh nghiệp đã được đưa ra để giúp cơ quan quản lý, đặc biệt là ND Việt Nam có biện pháp hạn chế thiệt hại trong nuôi tôm do EMS trong thời gian tới. tag: ky thuat nuoi tom the

Những kết quả nghiên cứu bước đầu

Theo kết quả thực nghiệm của giáo sư Donald Lightner – Đại học Arizona (Hoa Kỳ) và Trung tâm Thử nghiệm của Tập đoàn CP (Thái Lan), mầm bệnh Vibrio parahaemolyticus gây EMS phát triển rất nhanh nên có khả năng cạnh tranh mạnh với các vi khuẩn khác.

Khi ao nuôi được tẩy trùng bằng Chlorine trước khi thả tôm giống, vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus có thể phục hồi nhanh hơn nhiều so với các vi khuẩn cạnh tranh có lợi.

Do đó, nếu không sử dụng kịp thời vi khuẩn có lợi (men tiêu hóa, mem vi sinh) để khôi phục tính đa dạng của cộng đồng vi khuẩn, Vibrio parahaemolyticus có xu hướng xâm lấn tới bề mặt.

Vi khuẩn này được tìm thấy ở đáy ao và sản xuất ra chất độc cực mạnh.

Kinh nghiệm từ người nuôi tôm cho thấy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị bệnh gan tụy nên hạn chế cho ăn hoặc giảm lượng thức ăn sẽ giảm được tỷ lệ chết của tôm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, EMS ít khi xảy ra ở độ mặn thấp, với độ mặn dưới 5/1000, EMS không phải là một vấn đề, do đó các trại nuôi may mắn nằm gần nguồn nước ngọt dường như không gặp vấn đề với bệnh EMS. Với độ mặn trên 5/1000, EMS sẽ là vấn đề cần đặc biệt chú ý, nhất là khi nước ao nuôi có độ mặn trên 10/1000, bởi khi đó EMS sẽ có tác động mạnh nhất.

Khuẩn gây bệnh EMS ưa phát triển ở môi trường đáy ao nên tôm nuôi trong lồng đặt cách xa đáy ao có ít nguy cơ bị nhiễm EMS hơn. tag: nuôi tôm thẻ

Giải pháp hạn chế thiệt hại do EMS

Qua thống kê cho thấy, nuôi tôm cỡ lớn dường như ít bị bệnh EMS hơn so với tôm cỡ nhỏ.

Do đó, một trong những kỹ thuật là ương nuôi tôm giống trong các bể xi măng hoặc composite, từ 10-25 ngày bằng nguồn nước ao nuôi trước khi thả tôm vào nuôi trong ao. Điều này sẽ giảm thiệt hại nếu như tôm giống bị chết, người nuôi tôm không mất công xả ao và cải tạo lại ao.

Kinh nghiệm từ người nuôi tôm cho thấy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị bệnh gan tụy nên hạn chế cho ăn hoặc giảm lượng thức ăn sẽ giảm được tỷ lệ chết của tôm.

Phương pháp phòng bệnh EMS được các nhà khoa học quan tâm đó là nuôi ghép tôm với một số đối tượng thủy sản khác, chẳng hạn như cá rô phi. Tại Malaysia, một số người nuôi tôm đã hạn chế được thiệt hại do EMS bằng cách sử dụng nước từ ao nuôi cá măng biển và cá rô phi bơm sang ao nuôi tôm.

Theo tiến sĩ Donald Lightner, nuôi ghép tôm với các đối tượng thủy sản khác có mức độ an toàn dịch bệnh cao hơn hẳn so với nuôi tôm độc canh.

Các đối tượng thủy sản này sẽ tiêu diệt các loài thiên địch có hại để bảo vệ sự cân bằng tự nhiên vốn có, đồng nghĩa các loại vi khuẩn có hại cho tôm sẽ bị tiêu diệt và tôm không ăn phải những loài vi khuẩn này nên ít bị nhiễm bệnh.

Tuy nhiên, giải pháp nuôi ghép vướng phải vấn đề tôm nuôi bị các đối tượng thủy sản khác ăn nếu nuôi không đúng kỹ thuật và đạt năng suất thấp so với nuôi tôm đơn canh nên đây cũng chỉ là giải pháp tạm thời.

Việc sử dụng công nghệ sinh học biofloc để đa dạng hóa quần thể sinh vật trong các ao nuôi tôm cũng được quan tâm rất nhiều.

Tuy chưa có các nghiên cứu giám sát về phương pháp này nhưng trong khuôn khổ nhóm công tác của Ngân hàng Thế giới/Quỹ Nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm cho thấy nhiều mô hình áp dụng công nghệ Biofloc giúp tôm ít bị nhiễm EMS hơn. tag: phòng bệnh trên tôm thẻ

Giải pháp phòng chống hội chứng tôm chết sớm (EMS)

Tại hội thảo này, các nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như doanh nghiệp đã được đưa ra để giúp cơ quan quản lý, đặc biệt là ND Việt Nam có biện pháp hạn chế thiệt hại trong nuôi tôm do EMS trong thời gian tới. tag: ky thuat nuoi tom the

Những kết quả nghiên cứu bước đầu

Theo kết quả thực nghiệm của giáo sư Donald Lightner – Đại học Arizona (Hoa Kỳ) và Trung tâm Thử nghiệm của Tập đoàn CP (Thái Lan), mầm bệnh Vibrio parahaemolyticus gây EMS phát triển rất nhanh nên có khả năng cạnh tranh mạnh với các vi khuẩn khác.

Khi ao nuôi được tẩy trùng bằng Chlorine trước khi thả tôm giống, vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus có thể phục hồi nhanh hơn nhiều so với các vi khuẩn cạnh tranh có lợi.

Do đó, nếu không sử dụng kịp thời vi khuẩn có lợi (men tiêu hóa, mem vi sinh) để khôi phục tính đa dạng của cộng đồng vi khuẩn, Vibrio parahaemolyticus có xu hướng xâm lấn tới bề mặt.

Vi khuẩn này được tìm thấy ở đáy ao và sản xuất ra chất độc cực mạnh.

Kinh nghiệm từ người nuôi tôm cho thấy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị bệnh gan tụy nên hạn chế cho ăn hoặc giảm lượng thức ăn sẽ giảm được tỷ lệ chết của tôm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, EMS ít khi xảy ra ở độ mặn thấp, với độ mặn dưới 5/1000, EMS không phải là một vấn đề, do đó các trại nuôi may mắn nằm gần nguồn nước ngọt dường như không gặp vấn đề với bệnh EMS. Với độ mặn trên 5/1000, EMS sẽ là vấn đề cần đặc biệt chú ý, nhất là khi nước ao nuôi có độ mặn trên 10/1000, bởi khi đó EMS sẽ có tác động mạnh nhất.

Khuẩn gây bệnh EMS ưa phát triển ở môi trường đáy ao nên tôm nuôi trong lồng đặt cách xa đáy ao có ít nguy cơ bị nhiễm EMS hơn. tag: nuôi tôm thẻ

Giải pháp hạn chế thiệt hại do EMS

Qua thống kê cho thấy, nuôi tôm cỡ lớn dường như ít bị bệnh EMS hơn so với tôm cỡ nhỏ.

Do đó, một trong những kỹ thuật là ương nuôi tôm giống trong các bể xi măng hoặc composite, từ 10-25 ngày bằng nguồn nước ao nuôi trước khi thả tôm vào nuôi trong ao. Điều này sẽ giảm thiệt hại nếu như tôm giống bị chết, người nuôi tôm không mất công xả ao và cải tạo lại ao.

Kinh nghiệm từ người nuôi tôm cho thấy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị bệnh gan tụy nên hạn chế cho ăn hoặc giảm lượng thức ăn sẽ giảm được tỷ lệ chết của tôm.

Phương pháp phòng bệnh EMS được các nhà khoa học quan tâm đó là nuôi ghép tôm với một số đối tượng thủy sản khác, chẳng hạn như cá rô phi. Tại Malaysia, một số người nuôi tôm đã hạn chế được thiệt hại do EMS bằng cách sử dụng nước từ ao nuôi cá măng biển và cá rô phi bơm sang ao nuôi tôm.

Theo tiến sĩ Donald Lightner, nuôi ghép tôm với các đối tượng thủy sản khác có mức độ an toàn dịch bệnh cao hơn hẳn so với nuôi tôm độc canh.

Các đối tượng thủy sản này sẽ tiêu diệt các loài thiên địch có hại để bảo vệ sự cân bằng tự nhiên vốn có, đồng nghĩa các loại vi khuẩn có hại cho tôm sẽ bị tiêu diệt và tôm không ăn phải những loài vi khuẩn này nên ít bị nhiễm bệnh.

Tuy nhiên, giải pháp nuôi ghép vướng phải vấn đề tôm nuôi bị các đối tượng thủy sản khác ăn nếu nuôi không đúng kỹ thuật và đạt năng suất thấp so với nuôi tôm đơn canh nên đây cũng chỉ là giải pháp tạm thời.

Việc sử dụng công nghệ sinh học biofloc để đa dạng hóa quần thể sinh vật trong các ao nuôi tôm cũng được quan tâm rất nhiều.

Tuy chưa có các nghiên cứu giám sát về phương pháp này nhưng trong khuôn khổ nhóm công tác của Ngân hàng Thế giới/Quỹ Nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm cho thấy nhiều mô hình áp dụng công nghệ Biofloc giúp tôm ít bị nhiễm EMS hơn. tag: phòng bệnh trên tôm thẻ

Kiểm soát dịch bệnh trong nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học

Kháng sinh đã được sử dụng với khối lượng lớn nhằm kiểm soát bệnh dịch, tuy nhiên, việc sử dụng này trong nhiều trường hợp thường không mang lại hiệu quả hoặc làm tăng thêm mầm bệnh. tag: ky thuat nuoi tom the

Công nghệ nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học là chìa khóa giải quyết các vấn đề này.

Theo dự báo của FAO, ngành nuôi trồng thủy sản sẽ đáp ứng một nửa nhu cầu về sản phẩm thủy sản đến năm 2020 do ngành khai thác bị khai thác quá mức, dẫn đến sản lượng khai thác suy giảm.

Nghề nuôi tôm đang được mở rộng trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước nhiệt đới do nhu cầu về sản phẩm này ngày càng tăng.

Tuy nhiên, nghề nuôi tôm hiện đang bị ảnh hưởng bởi các bệnh do vi khuẩn Vibrio và vi rút gây ra.

Mật độ thả nuôi trong các ao nuôi và bể chứa cao là nguyên nhân tạo ra các mầm bệnh và việc sử dụng các thức ăn giàu protein cũng tạo môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển.

Phản ứng vi sinh trong nuôi trồng thủy sản

Việc sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh) hay các vi khuẩn có lợi để loại trừ các vi khuẩn gây bệnh bằng quá trình cạnh tranh là một giải pháp tốt hơn nhiều so với việc sử dụng thuốc kháng sinh.

Nhờ bổ sung thêm các loài vi khuẩn có lợi được lựa chọn để loại trừ các vi khuẩn có hại nên thành phần các loài vi khuẩn trong ao nuôi có thể được thay đổi.

Tuy nhiên, quá trình này có thành công hay không lại phụ thuộc vào việc xác định quá trình sinh học, loại vi khuẩn có hại và dòng chế phẩm sinh học.

Cạnh tranh loại trừ là một trong các quá trình sinh học cho phép kiểm soát các thành phần vi khuẩn trong nước, trong các chất cặn bã và trong ruột của loài thủy sản nuôi.

Thuốc kháng sinh và mầm bệnh

Vibrio đã từng là nguyên nhân chính gây ra dịch bệnh trên tôm.

Để kiểm soát dịch bệnh do vi khuẩn Vibrio gây ra, người ta đã sử dụng thuốc kháng sinh, tuy nhiên cho đến thời điểm này, hiệu quả của việc sử dụng thuốc kháng sinh là rất thấp.

Ở Philippines, bệnh do vi khuẩn Vibrio đã gây ra tổn thất lớn về sản lượng tôm và gây thiệt hại về kinh tế cho người nuôi tôm trong năm 1996.

Vi khuẩn Vibrio đã kháng lại mọi loại thuốc kháng sinh  như chloramphenicol, furazolidone, oxytetracycline, và streptomycin và còn nguy hiểm hơn so với trước đây.

Tại Thái Lan, người nuôi đã sử dụng norfloxacin trong thức ăn, loại thuốc từng rất hiệu quả trong việc chống lại vi khuẩn Vibrio.

Tuy nhiên, điều trị này không mang lại hiệu quả vì sau khi ngừng thuốc toàn bộ tôm chết trong hai ngày. Rõ ràng, dòng vi khuẩn Vibrio đã kháng thuốc.

Chlorine được sử dụng rộng rãi trong các trại giống và trong các ao nuôi; tuy nhiên, việc sử dụng này lại kích thích sự phát triển của gen kháng thuốc trong vi khuẩn.

Một số người nuôi tôm ở Thái Lan cho biết khi chlorine được sử dụng trong các ao nuôi để diệt động vật phù du trước khi thả tôm, tuy nhiên sau khi dừng thả chlorine thì khuẩn Vibrio lại phát triển nhanh chóng.

Như vậy, Vibrio không những chỉ kháng thuốc mà còn là nguyên nhân gây thêm mầm bệnh.

Việc sử dụng thuốc chống vi khuẩn làm tình hình trở nên tồi tệ hơn.

Nếu thuốc kháng sinh hay thuốc sát trùng được sử dụng để diệt trừ vi khuẩn, một số vi khuẩn, mầm bệnh vẫn sống sót, bởi chúng đã mang gen kháng thuốc.

Bất cứ mầm bệnh nào trở lại trong ao hay các bể chứa từ ruột cá hay từ đường ống nước, đều có thể trao đổi gen với các vi khuẩn kháng thuốc và còn khỏe hơn trước.

Do vậy, các mầm bệnh kháng thuốc phát triển rất nhanh do đối thủ cạnh tranh đã bị loại trừ. Nồng độ tetracycline không đủ mạnh để diệt trừ vi khuẩn, do vậy tỷ lệ truyền gen giữa Vibrio cholerae and Aeromonas salmonicida tăng 100 lần. tag: nuôi tôm thẻ

Chế phẩm sinh học (men vi sinh)

Việc sử dụng chế phẩm sinh học để loại trừ các mầm bệnh bằng quá trình cạnh tranh loại trừ đang được sử dụng ngành chăn nuôi như là một giải pháp thay thế hữu hiệu hơn so với việc dùng thuốc kháng sinh và hiện được ứng dụng rộng rãi trong việc kiểm soát mầm bệnh trong nuôi trồng thủy sản.

Thuật ngữ “chế phẩm sinh học” thường được định nghĩa là các vi khuẩn có lợi cho vật chủ.

Theo Fuller (1989), chế phẩm sinh học là sự bổ sung một loại thức ăn vi sinh vật sống có tác dụng có lợi cho vật chủ qua việc cải tiến sự cân bằng vi sinh hệ trong đường ruột của vật chủ.

Trong nuôi trồng thủy sản, môi trường ao nuôi là môi trường thuận lợi cho các mầm bệnh phát triển độc lập với vật chủ, và vì thế các mầm bệnh phát triển nhanh vây quanh vật chủ.

Vi khuẩn Vibrio phát triển bám vào tảo và càng phát triển nhanh hơn trong hệ tiêu hóa của loài nuôi.

Do vậy, ở nơi nào mà mật độ tảo và loài nuôi cao thì số lượng vi khuẩn Vibrio cũng cao, gây ra mầm bệnh trên tôm, đặc biệt là mầm bệnh đã tăng do việc sử dụng thuốc diệt vi khuẩn quá liều.

Thành phần loài của một cộng đồng vi khuẩn, ví dụ cộng đồng vi khuẩn ở trong ao nuôi sẽ do tự nhiên quyết định. Điều này có nghĩa là các yếu tố tự nhiên quyết định loài này phát triển nhanh hơn các loài khác và chiếm ưu thế.

Cơ hội phát triển sẽ thuộc về các vi sinh vật ngẫu nhiên ở đúng vị trí, đúng thời điểm để có được nguồn dinh dưỡng như tảo hay thức ăn dư thừa xung quanh.

Cạnh tranh loại trừ là một trong các quá trình sinh học có thể được kiểm soát để làm thay đổi thành phần của đất, trong các thủy vực hay môi trường vi khuẩn khác.

Những thay đổi nhỏ ảnh hưởng tới tỷ lệ tăng trưởng hay tỷ lệ chết sẽ dẫn đến các thay đổi về sự chiếm ưu thế của từng loài.

Tuy chúng ta không biết các thành phần loài trong môi trường tự nhiên nhưng chúng ta có thể thay đổi thành phần loài bằng cách tận dụng các nguyên tắc cạnh tranh loại trừ.

Vì vậy, vi khuẩn không cần thiết phải diệt trừ tất cả các đối tượng cạnh tranh mà chỉ cần tăng tỷ lệ chết vừa đủ để lấy lại sự cân bằng trong việc tận dụng nguồn thức ăn.

Chẳng hạn, nếu dòng vi khuẩn Bacillus được sản xuất để kiềm chế sự phát triển của vi khuẩn Vibrio thì  tỷ lệ chết của vi khuẩn Vibrio sẽ tăng, dẫn đến dòng vi khuẩn Bacillus sẽ chiếm ưu thế, ngay cả khi thuốc kháng sinh được sản xuất ra có nồng độ không đủ mạnh để loài trừ tất cả các tế bào của vi khuẩn Vibrio.

Trong thập kỷ vừa qua, các công nghệ sinh học cũng như các nghiên cứu về vi khuẩn đã đạt được những thành tựu nhất định, vì thế các sản phẩm thương mại và công nghệ được bán để xử lý nước trong ao nuôi nhằm nâng cao mật độ của các loài vi sinh vật hay cải thiện các hoạt động sinh hóa.

Điều chỉnh sinh học đang được áp dụng ở nhiều lĩnh vực, tuy nhiên mức độ thành công cũng khác nhau, chủ yếu phụ thuộc vào sản phẩm được sử dụng và thông tin kỹ thuật đến với người tiêu dùng.

Loài vi khuẩn được dùng trong quá trình điều chỉnh sinh học phải được lựa chọn theo đúng chức năng để có thể thực hiện điều chỉnh sinh học và phải được dùng đúng liều lượng và ở môi trường phù hợp mới có thể đạt được kết quả mong muốn.

Điều chỉnh sinh học và việc sử dụng chế phẩm sinh học là những công cụ hữu ích cho quản lý nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng còn phụ thuộc vào việc hiểu biết bản chất của quá trình cạnh tranh giữa các loại vi khuẩn hay các dòng vi khuẩn cụ thể.

Chế phẩm sinh học như gram dương Bacillus là giải pháp thay thế việc dùng kháng sinh, hướng tới nuôi trồng thủy sản bền vững. Dòng chế phẩm Bacillus thường được tìm thấy trong lớp cặn bã và là thức ăn tự nhiên của tôm cá.

Các ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm

Thành phần loài vi khuẩn trong các ao nuôi tôm có diện tích khoảng 1 ha, trong các bể ương giống hay trong hệ tiêu hóa của tôm có thể dễ dàng thay đổi, nhờ vậy, sản lượng tôm được cải thiện.

Ví dụ điển hình là trang trại Viveros ở Negros, nơi bị thiệt hại nặng nề do vi khuẩn Vibrio gây ra.

Các loại thuốc kháng sinh đã được sử dụng trong thức ăn, tuy nhiên hiệu quả mang lại không cao. Sự có mặt của vi khuẩn Vibrio ở trong ao nuôi của vùng đó thường ở mức 103-104/ml trong vòng 2-3 tuần trong các ao nuôi sinh sản.

Tuy nhiên, khi chế phẩm sinh học được sử dụng thì không thấy xuất hiện bệnh và tỷ lệ sống là rất cao (80-100%) ngay cả khi vẫn có sự hiện diện của vi khuẩn Vibrio trong nước.

Trong các ao nuôi ở Philipin, khi chế phẩm sinh học được bổ sung thêm vào thức ăn thì số lượng vi khuẩn Vibrio trong gan tụy của tôm giảm xuống còn 1×104/ruột tôm và giảm xuống còn 0% khi chế phẩm được thả xuống ao.

Do vậy, nhiều người nuôi nhận thấy việc sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh do vi khuẩn Vibrio gây ra không mang lại kết quả.

Tại Indonesia, khi các dòng chế phẩm sinh học được lựa chọn thả xuống các ao nuôi thì vi khuẩn Vibrio hoàn toàn bị loại trừ trong nước và cặn bã ở đáy ao nuôi.

Quá trình này xảy ra là do việc tận dụng cơ chế tự nhiên, qua đó các vi khuẩn cạnh tranh loại trừ lẫn nhau.

Điều này cho thấy các vấn đề về bệnh có thể được giải quyết nhờ việc áp dụng chế phẩm sinh học. tag: phòng bệnh trên tôm thẻ

Như vậy, việc sử dụng chế phẩm sinh học, dựa trên nguyên tắc cạnh tranh loại trừ là một phương pháp thay thế hữu hiệu trong việc phòng và điều trị bệnh trên tôm, đồng thời hướng tới một ngành nuôi tôm bền vững, thân thiện với môi trường và mang đến sản phẩm chất lượng, an toàn cho người tiêu dùng.

Bền vững nuôi tôm tuần hoàn nước xanh

Một trong những hộ nuôi được xem là thành công nhất của dự án là anh Ngô Văn Sử.

Anh nuôi được 6 vụ, chỉ thất bại 2 vụ. tag: ky thuat nuoi tom the

Nhưng 2 vụ này anh vẫn thu hồi được vốn, 4 vụ còn lại trung bình anh thu về 70 triệu đồng/vụ.

Theo anh Sử, có được kết quả trên là do cây lúa tạo môi trường nước xanh, sạch khi cấp cho ao nuôi, giúp tôm phát triển tốt.

Mô hình này được nhiều hộ dân học hỏi và cho hiệu quả cao hơn cách làm truyền thống.

Môi trường sạch, hiệu quả cao

Dự án được triển khai năm 2013 với điều kiện vuông tôm phải có ao trữ nước ngọt, bờ vuông phải được gia cố, không rò rỉ.

Bước đầu có 12 hộ tham gia, trong đó 6 hộ thực hiện mô hình và 6 hộ thực hiện đối chứng để so sánh.

Mục tiêu là giảm chi phí sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng cho tôm và lúa được các hộ tham gia thực hiện đúng quy trình.

Bước đầu 6 hộ nuôi theo mô hình cho năng suất, hiệu quả cao hơn 6 hộ đối chứng.

Anh Ngô Văn Sử cho biết: Nhờ thực hiện khâu rửa mặn đúng quy trình nên cây lúa đã phát triển trở lại trên đất nuôi tôm.

Theo đó, tạo môi trường đất, nước cung cấp cho mô hình nuôi thâm canh tôm sú, tôm thẻ chân trắng theo kỹ thuật và quy trình của Dự án đều cho hiệu quả cao, cải thiện được tình trạng khó khăn mà nhiều năm qua người dân nơi đây không thể thực hiện được.

Nhờ sự nghiên cứu về dinh dưỡng, độ mặn, phèn tiềm tàng trong đất mà các chuyên gia khoa học đã đưa ra giải pháp bón phân, vôi, rửa phèn, mặn hợp lý.

Việc chăm sóc lúa trong giai đoạn nắng hạn cùng với ao trữ nước ngọt được thực hiện ngay từ đầu đã giúp cho mô hình trồng 1 vụ lúa trên đất nuôi tôm thành công.

Song song mô hình lúa phát triển tốt, tạo môi trường trong sạch cung cấp cho ao nuôi tôm thâm canh và một số hộ nuôi quảng canh cải tiến thu nhập tăng hơn so với cách nuôi trước khi thực hiện mô hình. tag: nuôi tôm thẻ

Nhân rộng mô hình

Bên cạnh hiệu quả mô hình nuôi bán thâm canh, loại hình nuôi quảng canh cải tiến và truyền thống cũng cho hiệu quả bền vững và năng suất, thu nhập cao.

Do thực hiện hiệu quả vụ lúa nên môi trường đất, nước phù hợp cho con tôm quảng canh phát triển, ít dịch bệnh nên thu nhập của người dân thực hiện trong mô hình ngày càng ổn định.

Ông Dương Thanh Dũng, Bí thư Chi bộ ấp Thị Tường, người thực hiện mô hình, cho biết:

Do người nuôi thực hiện theo mô hình nên số lần thả giống 1 năm chỉ 4 – 5 đợt cùng 1 đợt cua, thu nhập trung bình mỗi năm 150 triệu đồng/ha, có nhiều hộ đạt 200 triệu đồng từ tôm và cua.

Từ đó, nhiều hộ dân trong ấp tự nguyện học hỏi kinh nghiệm và làm theo.

Từ 6 hộ sản xuất theo mô hình, nay tăng lên 18 hộ, tất cả đều nuôi theo dạng tuần hoàn nước xanh.

Trong đó, ngoài thành công bên mô hình nuôi bán thâm canh trên tôm sú và tôm thẻ thì diện tích cấy lúa, nuôi quảng canh truyền thống và luân canh tôm, cua đều cho năng suất và thu nhập tăng theo từng vụ nuôi.

Theo ông Nguyễn Công Thành, Phân viện phó Phân viện Nghiên cứu Thủy sản Minh Hải, đơn vị thực hiện dự án, đánh giá: Qua thực hiện nhiều dự án, mô hình tính đến thời điểm này có thể nói nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh mật độ thưa theo mô hình tuần hoàn nước xanh cho hiệu quả nhất.

Năng suất cả tôm và lúa qua từng vụ nuôi luôn ổn định và cho thu nhập cao.

Từ đó, người dân ngày càng ý thức hơn trong việc duy trì mô hình này.

Nhờ môi trường nuôi sạch được cấp từ nước trên ruộng lúa và mật độ thưa (15 con/m2 đối với tôm sú và 20 – 30 con/m2 đối với tôm thẻ chân trắng) nên tôm mau lớn, ít dịch bệnh. tag: phòng bệnh trên tôm thẻ

Hiện, với 2 ao nuôi tôm sú mật độ 8 con/m2, thời gian gần 3 tháng tôm đạt trọng lượng 40 – 50 con/kg, anh Ngô Văn Sử dự kiến thu về vài chục triệu đồng.

Bệnh lạ trên tôm nuôi

Trong những tháng gần đây, thời tiết thay đổi thất thường, tôm nuôi bị bệnh đốm trắng, đầu vàng, đỏ thân… xảy ra ở nhiều nơi. Mới đây tôm nuôi công nghiệp ở ấp Bùng Binh 2, xã Hòa Tân, phường 6, TP Cà Mau và xã Tạ An Khương Nam, Tạ An Khương Đông, huyện Đầm Dơi xuất hiện bệnh lạ, chết hàng loạt. tag: ky thuat nuoi tom the

Loại bệnh này có biểu hiện rất giống với dấu hiệu tôm bệnh chết hàng loạt ở các tỉnh phía Bắc và các tỉnh Tiền Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu xảy ra trong tháng 7 và 8 vừa qua.

Kết quả phân tích mẩu tôm nuôi bị bệnh chết của 5 hộ nuôi ở ấp Bùng Binh 2, xã Hòa Tân, phường 6, TP Cà Mau và ấp Tân Thới, xã Tạ An Khương Đông, huyện Đầm Dơi của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II cho thấy, mang tôm bị tổn thương có đốm đen, nhiễm nhiều ký sinh trùng, gan tụy bị teo lại và có màu trắng nhợt. Chính những tổn thương ấy là nguyên nhân làm cho tôm chết với tỷ lệ cao trong thời gian qua.

Theo báo cáo của Chi cục Nuôi trồng thủy sản, hiện toàn tỉnh có hơn 25 ha tôm nuôi công nghiệp bị bệnh gan tụy, tập trung chủ yếu ở TP Cà Mau 20,2 ha và huyện Đầm Dơi 5,5 ha. Dịch bệnh gan tụy trên tôm nuôi đang có chiều hướng gia tăng và mức độ lây lan nhanh.

Theo Tiến sĩ Bùi Quang Tề, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy hải sản I, đây là bệnh rất nguy hiểm trên tôm. Tỷ lệ tôm chết rất nhanh, chỉ trong vòng 2-3 ngày nhiễm bệnh có thể chết từ 60-70%, nếu bệnh nặng tỷ lệ chết lên đến 100%. tag: thuốc thuỷ sản

Anh Đỗ Thanh Hải, nông dân xã Tạ An Khương Đông, huyện Đầm Dơi, cho biết: “Sau khi thả nuôi được hơn 40 ngày tuổi thì tôm trong ao có dấu hiệu bệnh lạ. Tôm hoạt động chậm, bơi vào bờ và chết rất nhanh, thiệt hại hơn 1 ha, mặc dù trước mỗi vụ nuôi tôi thực hiện đúng các quy trình kỹ thuật trong cải tạo ao đầm, chọn con giống”.

Tiến sĩ Bùi Quang Tề kết luận: “Những biểu hiện trên là dấu hiệu của bệnh gan tụy. Được biết bệnh này có nguồn gốc từ Úc và tôm nuôi ở một số nước vùng ven biển như: Trung Quốc, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Philippines… Khi tôm nhiễm bệnh, vi-rút tấn công hệ gan tụy gây giảm chức năng miễn dịch, mất sức đề kháng làm tôm bị chết.

Bệnh này hiện nay chưa có thuốc đặc trị và càng nguy hiểm hơn khi lây lan qua nguồn nước. Biện pháp tránh thiệt hại chủ yếu là phòng ngừa, bằng cách tăng cường chức năng hoạt động của gan, tăng sức đề kháng của tôm, cải thiện điều kiện môi trường ao nuôi”.

Đồng chí Nguyễn Thành Trung, Phó Chi cục trưởng Chi cục Nuôi trồng thủy sản Sở NN&PTNT cho biết: “Phần lớn người dân đã ý thức được tác hại của dịch bệnh trên tôm nuôi, nên khi phát hiện bệnh đều khai báo kịp thời với ngành chức năng đến kiểm tra, hướng dẫn cách xử lý, khống chế dịch, chống dịch bệnh lây lan ra diện rộng.

Tuy nhiên, đây là loại bệnh mới không nằm trong danh mục bệnh thủy sản có hỗ trợ hóa chất xử lý. Sở NN&PTNT đang trình UBND tỉnh xem xét đưa bệnh gan tụy vào danh mục các bệnh được hỗ trợ hóa chất xử lý dập dịch, để người dân xử lý mầm bệnh triệt để, tránh tình trạng xả nước có nhiễm mầm bệnh ra môi trường tự nhiên”.

Theo khuyến cáo của ngành chuyên môn, hiện nay đang mùa trái vụ, trong thời điểm sên vét cải tạo lại ao đầm nên nguồn nước trên các sông rạch bị ô nhiễm nặng; do đó, bà con nông dân nên hạn chế lấy nước bên ngoài sông, rạch vào vuông nuôi. Nếu lấy nước vào vuông tôm cần phải qua hệ thống ao lắng, đồng thời xử lý bằng chế phẩm sinh học. Thường xuyên theo dõi tôm nuôi, nhất là sau những trận mưa.

Khi phát hiện tôm có dấu hiệu bệnh gan tụy, có thể sử dụng thuốc SIL VA54, liều 2-3 ml/kg thức ăn, sử dụng liên tục trong 5 ngày. Thực hiện tốt các khâu cải tạo ao đầm, chọn mua con giống chất lượng tốt tại những trại giống uy tín đã được khuyến cáo của nhà quản lý để thả nuôi. tag: nuôi tôm sú thâm canh

Hiệu quả của quy trình nuôi tôm sử dụng chế phẩm sinh học

Các năm qua, nghề nuôi tôm phát triển nhanh ở một số vùng, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân. Nhưng vài năm trở lại đây đã bộc lộ nhiều bất trắc, rủi ro, môi trường ô nhiễm, dịch bệnh lây lan, thua lỗ kéo dài ở một số nơi, một số vùng gây nhiều tác động xấu đến kinh tế xã hội của địa phương, lại còn có nguy cơ diện tích đất đang sử dụng nếu không phát triển nuôi trồng thủy sản thì khó mà trở lại canh tác nông nghiệp, hậu quả xảy ra sẽ rất khó lường. tag: ky thuat nuoi tom the

Trước tình hình đó, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Phú Yên đã đầu tư nghiên cứu, áp dụng vào thực tế sản xuất quy trình nuôi tôm sử dụng chế phẩm sinh học, nội dung: Quy trình nuôi hạn chế sử dụng hóa chất, kháng sinh, sử dụng phân trùn để gây màu nước, ổn định tảo, chế phẩm sinh học E.M để làm sạch môi trường, cho thủy sản nuôi ăn thức ăn bổ sung E.M Trùn để tăng sức đề kháng, phòng trừ bệnh hại.

Vi sinh vật hữu hiệu E.M (Effective Microorganisms) do Giáo sư Tiến sĩ người Nhật Teruo Higa phát minh vào đầu những năm 1980, là một tập hợp các loài vi sinh vật có ích ( vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn Lactic, nấm men, xạ khuẩn, nấm sợi… ) sống cộng sinh trong cùng một môi trường, có thể sử dụng chúng như một chất nhằm tăng cường tính đa dạng vi sinh vật đất, nước, bổ sung các vi sinh vật có ích vào môi trường tự nhiên, giảm thiểu ô nhiễm do các vi sinh vật có hại gây ra.

Hiện nay, E.M đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu sử dụng như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Mỹ, tổ chức nghiên cứu E.M Châu Âu.

Để phát huy tác dụng của E.M, quy trình nuôi gây màu nước bằng phân trùn để ổn định tảo, tạo nhiều thức ăn tự nhiên cho tôm trong giai đoạn đầu mới thả. Khi tôm 1 tháng tuổi, định kỳ 7 – 10 ngày 1 lần, buổi sáng lúc có nắng dùng E.M thứ cấp tạt đều vào ao nuôi, liều lượng 2 lít/1.000m3 để duy trì tảo ở mức độ hợp lý, không quá dày, không mất tảo, giữ ổn định hệ sinh thái ao nuôi, bổ sung vi khuẩn có lợi, hạn chế sự phát triển của các virus, vi khuẩn gây bệnh cho tôm nuôi, cho ăn thức ăn bổ sung E.M Trùn ngày 1 – 2 lần vào bữa ăn chính nhằm tăng sức đề kháng cho tôm, phòng trừ bệnh hại, liều lượng và cách làm: Dùng 1 kg dịch trùn + 2 – 3 lít E.M thứ cấp trộn đều với 50 – 60 kg thức ăn để 20 – 30 phút cho khô sau đó cho tôm ăn.

Mục đích: Khi cho E.M vào ao nuôi, do có sẵn lượng vi khuẩn có lợi của phân trùn, dịch trùn: Vi khuẩn cố định đạm, nitơ hóa, biến đổi lân, Bacillus spp…, E.M sẽ làm tăng hoạt tính của các vi khuẩn này lên nhiều lần, khống chế sự phát triển của các virus, vi khuẩn gây bệnh cho tôm nuôi, khử mùi hôi tầng đáy, các khí độc NH3, H2S … luôn ở mức thấp, môi trường ao nuôi trong sạch, tôm khỏe mạnh, ăn nhanh hết thức ăn, chóng lớn, hiệu quả. tag: thuốc thuỷ sản

Đến nay, tuy vùng nuôi tôm bị bệnh dịch, nhưng 100% các ao thực hiện quy trình đều đạt hiệu quả cao, tôm nuôi khỏe mạnh, phát triển tốt, kết quả của một số hộ tiêu biểu như sau:

Hộ Ông Bà Trần Văn Tĩnh, nuôi tôm chân trắng trên diện tích 6.000 m2 tại thôn Đồng Bé xã Hòa Tâm huyện Đông Hòa, lãi được 200 triệu đồng sau vụ nuôi (số lượng giống thả 1.200.000 con, đạt sản lượng 14,50 tấn, cỡ tôm 80 con/kg, tỉ lệ sống 96,7 %, giá bán 57.000 đồng/kg, doanh thu 826,5 triệu đồng).

Hộ Ông Bà Nguyễn Trung San, nuôi tôm thẻ chân trắng tại xã Hòa Hiệp Bắc, huyện Đông Hòa, ao nuôi có diện tích 3.600 m2, lãi được 105 triệu đồng sau 3 tháng 3 ngày nuôi (sản lượng 6,70 tấn, cỡ tôm 70 con/kg, tỉ lệ sống 93,8 %, giá bán 57.000 đồng/kg, doanh thu 381,9 triệu đồng).

Trước kết quả đạt được, ông Trần Văn Tĩnh cho biết: Thực hiện quy trình nhận thấy tảo ổn định, tôm khỏe mạnh, nhanh lớn, hiệu quả, đã làm gia đình an tâm, tin tưởng vào hiệu quả của quá trình đầu tư thực hiện quy trình này so với các đầu tư sản xuất kinh doanh khác.

Ông Nguyễn Trung San người thành công trong nghề nuôi tôm nhiều năm liền nhận định: Bệnh dịch trên tôm nuôi hiện nay có nguyên nhân chính là môi trường mà nó đang sinh sống, việc phòng trị bằng hóa chất sẽ không hiệu quả mà việc gìn giữ môi trường ao nuôi cho trong sạch mới là biện pháp hàng đầu để nuôi tôm ổn định, hiệu quả. E.M Trùn chính là công nghệ tốt nhất để giải quyết yêu cầu này trong giai đoạn hiện nay, vì khi môi trường ao nuôi trong sạch, tôm rất khó bị nhiễm bệnh, khó bộc phát bệnh ngay cả trường hợp có mầm bệnh trong mô cơ của tôm nuôi.

Qua nhiều năm tổ chức thực hiện quy trình chúng tôi nhận thấy: Quy trình có tác dụng làm môi trường ao nuôi trong sạch, tạo ra được các vi khuẩn có lợi sống cộng sinh với nhau, ngăn chặn, khống chế sự phát triển của các virus, vi khuẩn gây bệnh cho tôm nuôi.

Nếu 100% các ao nuôi trong vùng đều thực hiện quy trình sẽ làm môi trường vùng nuôi trong sạch, quá trình nuôi trồng thủy sản sẽ phát triển, hiệu qủa, bền vững, đáp ứng được mong muốn từ nghìn đời nay của bà con. tag: nuôi tôm sú thâm canh

Xử lý môi trường trong nuôi tôm

Đối với ao cũ thì nạo vét sạch lớp bùn đen của vụ trước chuyển xa khỏi ao, sau đó rửa sạch ao và bón vôi. Chú ý, đối với ao đất phèn tiềm tàng khi cải tạo đáy ao không phơi mắng tránh hiện tượng xì phèn. Tẩy rửa ao thật cẩn thận, loại bỏ các chất độc hại của vụ trước, sau đó bón vôi để nâng cao và ổn định độ pH trong đất. Đất có độ pH. tag: ky thuat nuoi tom the

Cải tạo ao: Bơm nước, vệ sinh và xử lý ao hồ: – Bơm khô, hút cạn nước, nạo vét bùn đáy, san phẳng đáy ao, tạo mương. – Mương có thể dạng xương cá, dạng bao quanh ao, hoặc dạng chữ I.

– Đối với ao mới đào, sau khi xây dựng xong, cho nước vào rửa 2-3 lần, mỗi lần ngâm 2-3 ngày, quậy sục đáy ao và tháo nước ra. Sau khi tháo hết nước lần cuối thì rải vôi bột khắp đáy và bờ ao.

Bón vôi:

Đối với đất bình thường, pH từ 6-7 dùng 300-500 kg/ha, đất ít chua, pH 4,5 -6 dùng 600-1.000 kg/ha, đất chua nhiều pH 3 – 4,5 dùng 1.000 – 1.800 kg/ha. Sau khi rải vôi xong kiểm tra pH đất bằng pH nước tiến hành cày lật và phơi ao 10-15 ngày nắng liên tục.

Đối với ao cũ thì nạo vét sạch lớp bùn đen của vụ trước chuyển xa khỏi ao, sau đó rửa sạch ao và bón vôi. Chú ý, đối với ao đất phèn tiềm tàng khi cải tạo đáy ao không phơi mắng tránh hiện tượng xì phèn. Tẩy rửa ao thật cẩn thận, loại bỏ các chất độc hại của vụ trước, sau đó bón vôi để nâng cao và ổn định độ pH trong đất. Đất có độ pH

Phơi khô đáy trong vòng 10-15 ngày.

Diệt tạp:

Để loại bỏ các sinh vật gây hại cho tôm. Nước thải được lấy qua lưới lọc, để 2-3 ngày cho các loại trứng nở ra hết rồi tiến hành diệt tạp, có thể dùng rễ cây thuốc cá: 1,5 kg/100 m3 nước, hoặc các sản phẩm có hoạt chất Rotenol, Saponil… tag: thuốc thuỷ sản

Xử lý nguồn nước:

Xử lý nguồn nước trong ao xử lý. Sau 7-10 ngày, tiến hành diệt cá tạp và xử lý mầm bệnh. Sau 1-2 ngày bơm nước đã xử lý vào ao nuôi và tiến hành gây màu. Khi thấy nước có màu đạt yêu cầu, tiến hành thả tôm.

Gây màu nước: Gây màu nước trong ao bằng cách bón phân, các loại phân thường dùng:

+ Phân vô cơ: urê (45:0:0): 2kg/1.000 m3 ; NPK (20:20:0): 2kg/1.000m3. Lưu ý, các loại phân bón vô cơ đều phải được hoà tan trong nước ngọt rồi tạt xuống ao vào lúc 9-10giờ sáng để kích thích tảo phát triển. Lượng phân trên chia ra bón trong nhiều ngày, lượng phân của ngày hôm sau bằng 50% ngày hôm trước để duy trì sự phát triển của sinh vật phù du.

+ Phân hữu cơ: phân gà, phân chim cút,… ù hoại với vôi bột 15 ngày trở lên, bón 3-5 kg cho 1.000 m2.

+ Hoặc dùng các chế phẩm có bán sẵn như: BOM-D, NT,…

+ Với những ao khó gây màu như vùng đất cát có thểv sủ dụng 0.2kg cám gạo: 0,2kg bột đậu nành rang chín: 1kg bột cá cho 1.000 m3 nước ao nuôi. Tất cả nấu lên hoà nước tạt đều xuống ao vào lúc 9-10 giờ sáng. Mỗi ngày làm một lần.

Khi thấy nước có màu vàng nâu, độ trong đạt 30 – 40 cm, kiểm tra các yếu tố môi trường đảm bảo thì thả tôm. tag: nuôi tôm sú thâm canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/xu-ly-moi-truong-trong-nuoi-tom-11744.html

Khắc phục hiện tượng tôm lội kéo đàn

Dấu hiệu:

1. Những ao có màu nước đậm, độ trong thấp, hàm lượng oxy hòa tan ở tầng đáy thấp đã tạo ra khu vực yếm khí nên sinh ra nhiều khí độc như NH3, NO2… vì vậy làm cho tôm bơi lên tầng mặt lấy oxy và bơi thành từng đàn. tag: ky thuat nuoi tom the

2. Những ao nước trong, nghèo dinh dưỡng có rong đáy và độ kiềm thấp kèm theo thời tiết nắng gắt kéo dài làm nhiệt độ môi trường nước tăng cao nên tôm bơi thành từng đàn xung quanh bờ vào lúc trời nắng gắt.

Nguyên nhân:

Sự thay đổi nhiệt độ môi trường, sự phân hủy các hợp chất hữu cơ sinh ra khí độc gây hại cho tôm, ao nghèo dinh dưỡng, rong đáy…tag: thuốc thuỷ sản

Biện pháp khắc phục:

– Dùng YUCCA và mở máy quạt nước thường xuyên để cung cấp oxy cho tôm đồng thời hấp thụ các loại khí độc có trong ao, điều hòa nhiệt độ ở các tầng nước.

– Đối với những ao nước trong, nghèo dinh dưỡng thì phải gây tảo bằng các loại chế phẩm sinh học và bổ sung khoáng chất cung cấp dinh dưỡng cho ao nuôi (nếu trong ao có rong đáy thì diệt rong trước rồi tiến hành gây tảo).

– Đối với những ao có màu nước đậm, mật độ tảo dày và đáy dơ thì dùng vi sinh làm sạch môi trường nước. tag: nuôi tôm sú thâm canh

– Kiểm tra và điều chỉnh các yếu tố môi trường: DO, pH, Kiềm…cho phù hợp.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/khac-phuc-hien-tuong-tom-loi-keo-dan-12148.html

Giải pháp giảm rủi ro cho người nuôi tôm ở bạc liêu

Thực tế cho thấy, hơn 10 năm chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nghề nuôi tôm của tỉnh Bạc Liêu vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên, dịch bệnh trên tôm nuôi ngày càng phức tạp, nhất là vào thời điểm giao mùa và mùa khô, ban ngày thời tiết trở nên nắng gắt, tối trở lạnh, sự chênh lệch cao về nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm có thể lên tới 120C do vậy môi trường nước ao nuôi tôm thường không ổn định, các yếu tố môi trường như pH, độ kiềm, oxy hòa tan luôn dao động, hiện tượng ao nuôi khó gây màu nước, tảo trong ao thay đổi thường xuyên. tag: ky thuat nuoi tom the

Bên cạnh là áp lực nước mặn thay đổi theo mùa, vào mùa khô độ mặn thường rất cao, mực nước trong ao thấp do hiện tượng bốc hơi nước, mùa mưa thường độ mặn giảm đột ngột và lúc này là cơ hội thuận lợi cho nhiều loại bệnh phát triền và bùng phát.

Nhiều người nuôi tôm thừa nhận những năm trước 2010 nuôi tôm dễ, cũng có rủi ro nhưng ít và chủ yếu là gặp ở vụ nuôi trái vụ, 2 năm nay hầu như các tháng trong năm đều khó nuôi do môi trường ao nuôi luôn biến động, dịch bệnh phát sinh nhiều, giá các loại nguyên liệu đầu vào luôn tăng, giá sản phẩm không ổn định, có thời điểm xuống thấp làm người nuôi không có lãi.

Theo thống kê ngành nông nghiệp, chỉ tính trong năm 2011, tổng diện tích nuôi tôm bị thiệt hại là trên 23.000 ha, riêng diện tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh thiệt hại trên 10.000 ha, 9 tháng đầu năm 2012 diện tích tôm thiệt hại ở các mô hình nuôi là gần 14.000 ha, trong đó nuôi thâm canh, bán thâm canh có gần 6.000 ha thiệt hại, cao hơn 4.500 ha so với cùng kỳ năm 2010.

Có thể thấy nuôi tôm gần đây nổi lên 1 số vấn đề như sau:

– Năng suất tôm nuôi/ ha có xu hướng tăng so với các năm trước, nhưng sản lượng chung thấp hơn nhiều. Theo thống kê ngành nông nghiệp Bạc Liêu, sản lượng tôm nuôi 9 tháng 2011 là 38.463 tấn giảm 14.454 tấn so cùng kỳ 2010, 9 tháng 2012 là 44.718 tấn tăng so cùng kỳ 2011 nhưng giảm 8.199 tấn so cùng kỳ 2010.

– Giá tôm nguyên liệu 9 tháng đầu năm 2012 loại tôm sú 30 con/kg từ 125 ngàn đến 130 ngàn đồng/kg giảm 30% so cùng kỳ 2011, trong khi  giá các loại đầu tư đầu vào như thức ăn, xăng dầu, điện, kết hợp với sản lượng tôm không được cải thiện thì việc thua lỗ là không thể tránh khỏi. tag: thuốc thuỷ sản

– Xu hướng chung của nuôi tôm hiện tại hiệu quả sản xuất chưa cao.

– Ảnh hưởng của các yếu tố nội tại như kỹ thuật nuôi còn yếu, thiếu đầu tư hợp lý, quá trình nuôi còn trông chờ nhiều vào may rủi.

– Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm cho thời tiết chuyển biến theo chiều hướng bất lợi làm môi trường nước ao nuôi luôn biến đổi theo chiều hướng xấu, một số loại bệnh mới xảy ra mà hiện nay chưa tìm ra nguyên nhân, người nuôi tôm gặp rất nhiều khó khăn trong quản lý môi trường ao nuôi, bên cạnh là chất lượng thức ăn, thuốc thú y thủy sản và con giống kém làm cho vụ nuôi không tránh khỏi rủi ro.

Trước diễn biến dịch bệnh trên tôm nuôi, thời gian qua các ngành chuyên môn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu đã có nhiều giải pháp tích cực tới người nông dân như: xác định lịch thời vụ nuôi cho từng mô hình, khuyến cáo nuôi thưa, cảnh báo thời tiết, dịch bệnh, ô nhiễm, tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, hội thảo đầu bờ, tuyên truyền khuyến cáo nông dân nuôi tôm phát huy ý thức cộng đồng trong việc quản lý môi trường, áp dụng quy trình nuôi khép kín, sử dụng các chế phẩm sinh học để quản lý môi trường ao nuôi nhằm hạn chế thiệt hại do dịch bệnh lây lan, khuyến cáo người nuôi kiên quyết loại trừ các loại vật tư, con giống kém chất lượng, không nóng vội thả giống khi chưa chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị, các yêu cầu cần thiết cho vụ nuôi.

Tuy nhiên, trước hạn chế về chất lượng nguồn nước, hệ thống thủy lợi còn chưa đồng bộ, chất lượng con giống và các loại vật tư như thức ăn, thuốc hóa chất, nhiên liệu chưa được cải thiện, tính cộng đồng vẫn chưa được giải quyết triệt để…nên tôm nuôi vẫn bị chết hàng loạt ở nhiều vùng.

Ông Huỳnh Quốc Khởi, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Bạc Liêu chia sẻ: do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết chuyển biến ngày càng có chiều hướng xấu đã phát sinh nhiều yếu tố bất lợi, trong đó dịch bệnh trên tôm nuôi diễn biến khá phức tạp và điều lo lắng nhất hiện nay là vẫn còn nhiều nông dân chưa nắm vững kỹ thuật, còn nóng vội thả giống trong khi chưa thật sự chú ý tới việc cải tạo ao, quản lý môi trường nước ao nuôi và phòng trị bệnh cho tôm. Theo ông Khởi, để giảm thiểu những rủi ro, người nuôi tôm cần làm tốt một số vấn đề sau đây:

– Kiên quyết loại trừ các loại vật tư, con giống kém chất lượng.

– Tùy vào quy mô, điều kiện kinh tế từng hộ mà quyết định thả nuôi mật độ hợp lý.

– Không nóng vội thả giống, cần chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị, móy móc, dụng cụ cần thiết trước khi thả nuôi.

– Chú trọng yếu tố con người (người nuôi tôm phải cẩn thận, gọn gàng, sạch sẽ, hiểu biết kỹ thuật và yêu nghề).

– Thường xuyên thăm ao để sớm phát hiện các hiện tượng khác thường, không để hiện tượng mất màu nước hoặc các yếu tố môi trường trong ao nuôi giao động, bằng cách luôn giữ mực nước ao nuôi tối thiểu 1,2 m, sử dụng các loại vôi Super Canxi, Dolomite, các loại khoáng, các loại vi sinh thật sự chất lượng để ổn định môi trường ao nuôi.

– Cần chăm sóc đúng cách không để thức ăn dư thừa, chỉ sử dụng khoảng 75 – 80% khẩu phần thức ăn đã định trong ngày, định kỳ 10 – 15 ngày nên xét nghiệm mẫu nước để sử dụng vi sinh đúng liều nhằm giảm chi phí và hạn chế được dịch bệnh.

– Không lạm dụng sử dụng các loại thuốc kháng sinh, hóa chất trong suốt quá trình nuôi.

– Khi có biểu hiện khác thường trong ao cần tìm hiểu nguyên nhân hoặc báo cho cán bộ kỹ thuật để được tư vấn, hướng dẫn xử lý kịp thời

– Ghi chép mọi hoạt động, diễn biến của ao nuôi trong quá trình nuôi vì đây là cơ sở cho việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, đánh giá chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm và nhất là căn cứ để đưa ra phác đồ phòng ngừa và xử lý kịp thời khi có sự cố xảy ra. tag: nuôi tôm sú thâm canh

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/giai-phap-giam-rui-ro-cho-nguoi-nuoi-tom-o-bac-lieu-12150.html

Để giảm CO2 trong ao nuôi tôm

Khi thở, vi sinh vật, tôm, cá và vi khuẩn thải ra CO2, sự thối rữa hiếu – yếm khí các chất cặn bã hữu cơ cũng sản sinh ra CO2 và CO2 tạm tồn tại trong nước dưới dạng HCO3. Ở dạng này CO2 trở thành độc khí. Nồng độ CO2 cho phép trong ao tôm, cá là 5mg/l. tag: ky thuat nuoi tom the

Khi nồng độ CO2 trong nước cao (10-15mg/l) mà có một lượng Nitrit (NO2) cao, thì tôm, cá bị bệnh đông máu làm cho tôm, cá khó hô hấp. Trong trường hợp này chúng ta cần phải giảm lượng CO2 bằng cách xử lý Ca(OH)2. Xem xét tác dụng kép sau:

CO2 + Ca(OH)2 –> CaCO3 + H2O

CaCO3 + CO2 + H2O –> Ca(HCO3)2

Trong nghiên cứu thực tế chúng tôi thấy, để loại bỏ 1mg CO2/lít thì cần 0,84 mg Ca(OH)2. Vì sự hiện diện của CaCO3 trong nước làm nồng độ pH rất cao, các trại nuôi tôm thường dùng giấm công nghiệp hoặc rỉ đường để hạ nồng độ pH. Sở dĩ, người ta dùng giấm vì nghĩ, acid sẽ làm giảm độ pH và rỉ đường làm giảm CaCO3. tag: thuốc thuỷ sản

Cách làm này là không có cơ sở. Cách làm của các nhà khoa học là thay thế Ca(OH)2 bằng Na2CO3, vì chất này hòa tan nhanh, tác dụng nhạy cảm với CO2.

Na2CO3 + CO2 + H2O –> 2NaHCO3

Dựa vào công thức này tính toán để loại bỏ 1mg CO2/lít thì cần 2,41mg Na2CO3.

Ví dụ: Khi đo thấy nồng độ CO2 trong ao là 23mg/l thì nồng độ này vượt quá ngưỡng cho phép đến 18mg/l. Nếu xử lý Ca(OH)2 thì cần dùng: 18mg/l x 0,84 mg Ca(OH)2 = 15,1mg/l. Tính nước ao chính xác là bao nhiêu lít, ta nhân lên. Xử lý với Na2CO3 trong cùng chỉ số quan trắc trên 18mg CO2 x 2,41mg Na2CO3 = 43,38mg/l.

Nếu trong ao, tảo dày đặc thay nước cũng không hết thì phải nghĩ đến phosphor cao. Lúc này nên dùng muối biển thay thế cho Na2CO3. Dùng vôi nguyên chất pha với nước ngọt để lắng cặn, bỏ muối biển vào với nồng độ 25-30% và tạt đều trên mặt ao. tag: nuôi tôm sú thâm canh

Nếu ao 5000m vuông mặt nước dùng 100kg vôi; 500 kg muối. Tạt nhiều lượt. Lúc này dừng lo về độ mặn, vì lượng muối này không thể nâng độ mặn lên cao, nhất là vào mùa mưa.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/de-giam-co2-trong-ao-nuoi-tom-13365.html