Monthly Archives: July 2017

Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP) và việc duy trì an toàn sinh học trong nuôi tôm

Tuy nhiên có một số yếu tố chung khi đưa GAP áp dụng trong ao nuôi tôm. Ngoài ra cũng có rất nhiều ví dụ và tài liệu tham khảo về các quy trình thực hành quản lý tốt với một số nội dung như sau:

Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP) và việc duy trì an toàn sinh học trong nuôi tôm

Chuẩn bị ao, đáy ao và quản lý nước trước khi thả giống

–       Phơi khô ao trong thời gian hai tuần hoặc lâu hơn;

–       Vét bùn và chuyển bỏ bùn ra khỏi vùng ao nuôi;

–       Cày đất ướt nếu chưa dọn hết bùn;

–       Sử dụng túi lọc nước đôi kích cỡ mắt 300 µm;

–       Duy trì mực nước ít nhất là 80 cm ở phần nông nhất trong ao;

–       Ổn định nước trong vòng 10 – 15 ngày trước khi thả giống;

–       Bón vôi;

–       Bón phân;

–     Kiểm soát các loài không mong muốn (ví dụ như các loại cá, giáp xác, động vật thân mềm, động vật lưỡng cư, bò sát, chim và động vật có vú) bằng các phương pháp vật lý, hóa học và các phương tiện khác.

Chọn giống và thả giống

–       Sử dụng các phương pháp truyền thống và phương pháp phân tử để kiểm tra sức khỏe tổng quát con giống trước khi thả;

–       Chọn cỡ giống PL có kích thước đồng đều và đồng màu, nhanh nhẹn bơi ngược dòng nước;

–       Sử dụng formalin (100 ppm) gây stress khoảng 15 – 20 phút trong nước sục khí liên tục để loại bỏ PL yếu;

–       Ương PL trong ao vèo ngay tại khu nuôi khoảng 15 – 20 ngày;

–       Thả giống khi nước ao màu xanh và tránh nước trong;

–       Thả giống theo lịch thời vụ khuyến nghị của ban ngành chức năng;

–       Thả giống trong một khu nuôi vào cùng một thời điểm để tránh tác động tiêu cực của tôm ấu niên và trưởng thành đã nhiễm bệnh và chuyển bệnh đến những lô mới được thả.

Quản lý sau thả giống

–       Sử dụng các ao lắng và ổn định nước khoảng 10 – 15 ngày trước khi dùng cho các ao nuôi;

–       Sử dụng thường xuyên vôi nông nghiệp, đặc biệt là sau khi thay nước và mưa;

–       Không sử dụng bất kỳ loại hóa chất độc hại / cấm;

–       Sử dụng khay thức ăn để đảm bảo cho tôm ăn theo nhu cầu;

–       Sử dụng thuyền / thiết bị nổi để rải cho ăn khắp ao nhằm tránh tích tụ chất thải cục bộ;

–       Thường xuyên loại bỏ tảo đáy;

–       Theo dõi chất lượng nước để đảm bảo pH, độ kiềm và oxy hòa tan thích hợp;

–       Chỉ thay nước trong giai đoạn nguy cấp;

–       Hàng tuần kiểm tra bùn đáy ao để xem mức độ tích tụ chất thải hữu cơ đen và mùi hôi;

–       Chài tôm để theo dõi mức tăng trưởng.

Quản lý sức khỏe

–       Thường xuyên kiểm tra sức khỏe và hoạt động của tôm;

–       Chẩn đoán đúng khi sức khỏe của tôm có vấn đề;

–       Nếu tôm giống bị nhiễm bệnh Vibriosis thông thường thì nên giảm lượng thức ăn, đồng thời nên cải thiện chất lượng nước và đáy ao nếu cần thiết;

–       Nếu dịch bệnh xảy ra do một bệnh truyền nhiễm thì cần ngăn chặn nguy cơ lây lan dịch bệnh sang các trang trại khác (ví dụ như không xả nước, không di chuyển tôm đã nhiễm bệnh) và thông báo cho cơ quan chức năng;

–       Loại bỏ và xử lý an toàn tôm bệnh hoặc chết;

–       Thu hoạch khẩn cấp sau khi có quyết định thích hợp;

–       Không tháo cạn hoặc để mặc tôm đã bị bệnh/nhiễm;

–       Hủy bỏ tôm đã nhiễm bệnh theo cách thích hợp.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/thuc-hanh-nuoi-trong-thuy-san-tot-gap-va-viec-duy-tri-an-toan-sinh-hoc-trong-nuoi-tom-36676.html

Đánh giá in vitro các sản phẩm men vi sinh thương phẩm được sử dụng cho nuôi tôm biển ở Thái Lan

Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của 12 sản phẩm men vi sinh thương phẩm ở Thái Lan được sử dụng trong nuôi tôm biển căn cứ trên hai tiêu chí cụ thể là độ chính xác của các thông tin trên nhãn sản phẩm liên quan đến định lượng và định loài vi sinh vật, mức chấp nhận về định lượng vi sinh vật probiotic 106 CFU/g trong các sản phẩm.

Trong số 12 sản phẩm lấy mẫu, chỉ có hai trong số đó cung cấp đầy đủ thông tin về định lượng và thành phần của vi sinh vật cũng như liều lượng đúng cách.

Ngoài ra, không có sản phẩm men vi sinh nào có định lượng và thành phần vi sinh vật chính xác hoặc có phẩm chất enzym ngoại bào công bố trên nhãn cũng như không cho thấy bất kỳ tác dụng ức chế in vitro nào với vi khuẩn gây bệnh Vibrio harveyi trên tôm. Tuy nhiên, một số sản phẩm có khả năng sinh tổng hợp amylase, protease và lipase ở mức cao.

Bảng 1. Tổng định lượng vi khuẩn dị dưỡng trong các sản phẩm men vi sinh thương phẩm được kiểm nghiệm so với định lượng công bố trên nhãn (ND: không có số liệu)

Men vi sinh

thương phẩm

 

Nước sản xuất

 

Tổng số vi khuẩn

dị dưỡng hiếu khí

đếm được (CFU/g)

Tổng số vi khuẩn

dị dưỡng hiếu khí

ghi trên nhãn (CFU/g)

Sản phẩm 1

Sản phẩm 2

Sản phẩm 3

Sản phẩm 4

Sản phẩm 5

Sản phẩm 6

Sản phẩm 7

Sản phẩm 8

Sản phẩm 9

Sản phẩm 10

Sản phẩm 11

Sản phẩm 12

Thailand

Thailand

Trung Quốc

Thailand

Trung Quốc

Thailand

Thailand

Thailand

Thailand

Thailand

Mỹ

Thailand

8,57 x 104

2,07 x 104

1,26 x 104

8,23 x 103

4,43 x 103

6,13 x 102

2,50 x 105

1,26 x 108

7,55 x 107

1,70 x 107

1,30 x 109

1,10 x 106

109

109

109

109

109

109

ND

ND

109

ND

109

ND

Bảng 2. Thành phần loài vi khuẩn trong các sản phẩm men vi sinh thương phẩm được kiểm nghiệm so với công bố trên nhãn

Bảng 3. Loài vi khuẩn Bacillus trong các sản phẩm men vi sinh thương phẩm được kiểm nghiệm

Điều tra này cho thấy rằng chỉ có hai (sản phẩm 9 và 11) trong số 12 sản phẩm men vi sinh thương phẩm được kiểm nghiệm có định lượng vi sinh vật probiotic ( men vi sinh, men tiêu hóa ) khuyến nghị dùng cho nuôi tôm và cung cấp nhãn có thông tin về định lượng sản phẩm cũng như thành phần của vi sinh vật đúng.

Hơn nữa, một số sản phẩm men vi sinh thương phẩm được kiểm nghiệm có khả năng sản sinh amylase, protease và lipase cao, không có sản phẩm nào cho thấy có tác dụng ức chế in vitro đối với V. harveyi.

Hiệu quả của các sản phẩm men vi sinh thương phẩm đã kiểm nghiệm trong nghiên cứu này được xác định trong điều kiện in vitro, tuy nhiên, hiệu quả của các sản phẩm men vi sinh này khi được sử dụng ở hoàn cảnh thực tế liên quan trực tiếp đến điều kiện nuôi trồng thủy sản có thể không phù hợp với điều kiện in vitro.

Subuntith Nimrat1 and Verapong Vuthiphandchai2

1Chương trình Khoa học Môi trường và Vi sinh học, Khoa Khoa học, Đại học Burapha, Chon Buri, 20131, Thái Lan.

2Khoa Khoa học Thủy sản, Chuyên ngành Khoa học, Đại học Burapha, Chon Buri, 20131, Thái Lan.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/danh-gia-in-vitro-cac-san-pham-men-vi-sinh-thuong-pham-duoc-su-dung-cho-nuoi-tom-bien-o-thai-lan-36683.html

Nuôi tôm bằng vi sinh tiết kiệm mà hiệu quả

Vậy sự lựa chọn men vi sinh nào là thích hợp? Theo thành phần hoặc theo hàm lượng, uy tín của nhà sản xuất, liều dùng mỗi lần và chi phí cả vụ, giá cả và dịch vụ tư vấn, qua kinh nghiệm truyền nhau, sản phẩm sản xuất trong nước hay là nhập khẩu? Câu trả lời sẽ là tất cả những quan tâm trên đây.

Nuôi tôm bằng vi sinh tiết kiệm mà hiệu quả

Giữa vô số các loại men vi sinh trên thị trường hiện nay, có lẽ người nuôi nên “tỉnh táo” để lựa chọn, đừng bị choáng ngợp bởi sản phẩm có đa dạng thành phần ở mức “số mũ to” hoặc liều sử dụng thấp, ngôn từ hoa mỹ về công dụng sản phẩm hay là giá cả thấp và chiết khấu cao.

Ưu tiên lựa chọn nên là kinh nghiệm truyền nhau, uy tín của nhà sản xuất / công ty phân phối và trên hết là trải nghiệm thực tế tại chính ao nuôi của mình.

Thực chất, có nhiều sản phẩm với thành phần và định lượng “khủng” nhưng khi xử lý tại ao không mấy tác dụng hoặc phải tăng liều gấp hai hoặc ba lần so với hướng dẫn sử dụng mà kết quả vẫn không như mong đợi

. Ngay cả khi đếm đủ định lượng vi khuẩn thì cũng chưa chắc là sản phẩm sẽ có hiệu quả trong môi trường ao nuôi thực tế vì phụ thuộc vào khả năng sống và phạm vi hoạt động / kiểm soát của từng loài / dòng vi sinh, lượng oxy, thông số lý hóa của đất và nước, tỉ lệ chất nền hữu cơ trong ao.

Bí quyết của một sản phẩm men vi sinh tốt sẽ ở kỹ thuật công nghệ nuôi cấy vi sinh của nhà sản xuất để đảm bảo các dòng vi khuẩn có lợi hoàn toàn tự nhiên, không biến đổi gien và chất lượng ổn định. Một số dòng vi khuẩn có lợi có khả năng kiểm soát tốt các thành phần dinh dưỡng trong cột nước để duy trì mật độ tảo ở mức thích hợp và hạn chế tảo độc phát triển, hoặc để ngăn ngừa các loại vi khuẩn hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao.

Đối với đáy ao có siphon hoặc không có siphon cũng rất cần những dòng vi khuẩn mạnh để kiểm soát sự tích tụ đáy ao, hạn chế quá trình yếm khí trong ao, giảm các loại khí độc (NH3, H2S) và hơn thế nữa là có thể hình thành các protein vi khuẩn và các floc để làm nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho tôm. Vì thế, người nuôi nên sử dụng kết hợp sản phẩm men vi sinh xử lý đáy và nước để kiểm soát môi trường ao nuôi tốt hơn.

Người nuôi cũng nên lựa chọn các nhà sản xuất có uy tín, chuyên nghiệp và công nghệ vi sinh tiên tiến. Men vi sinh chính là những vi khuẩn sống nên đòi hỏi quy mô thiết bị hiện đại để sản xuất được các sản phẩm thực sự chất lượng cao và ổn định. Ngoài ra, các nhà sản xuất chuyên nghiệp còn có khả năng truy xuất nguồn gốc mọi thành phần trong sản phẩm từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng.

Song song với hiệu quả xử lý của sản phẩm, người nuôi tất nhiên sẽ lưu tâm tính toán đến liều lượng xử lý và chi phí toàn bộ vụ nuôi. Mỗi đợt xử lý đều phải tăng liều và/ hoặc thời gian xử lý định kỳ ngắn ngày hơn thì sản phẩm giá rẻ sẽ trở thành quá đắt khi tính trên cả vụ nuôi, chưa nói đến rủi ro nếu môi trường nuôi không được xử lý kịp thời ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và chất lượng tôm nuôi.

Khi đã chọn được một sản phẩm vi sinh tốt, người nuôi cũng cần quan tâm đến cách dùng sản phẩm: tính toán liều chính xác, định kỳ xử lý hoặc chia liều định kỳ nhỏ lại hoặc tăng liều tùy theo điều kiện thông số môi trường và quy trình cho ăn.

Thường xuyên theo dõi khay thức ăn và kiểm tra bùn đáy ao để xử lý liều vi sinh thích hợp.

Môi trường đáy ao biến động xấu, tôm sẽ ăn nhiều thức ăn trong khay, nên người nuôi có thể cho ăn nhiều hơn hoặc tăng cữ ăn sẽ làm môi trường tệ hơn, khi đó phải tăng liều vi sinh thì sẽ tốn chi phí hơn và lãng phí thức ăn.

Cũng sẽ rất mất thời gian và lãng phí khi dùng liều vi sinh quá cao có thể gây sụp tảo, mất cân bằng môi trường gây căng thẳng cho thủy sản nuôi.

Ở các ngày nhiệt độ cao hoặc mưa liên tục thì cần điều chỉnh tăng liều vi sinh thích hợp để tảo không phát triển quá dày.

Không sử dụng vi sinh cùng lúc với hóa chất và kháng sinh, vì hóa chất và kháng sinh sẽ làm chết hoặc làm mất tác dụng của vi sinh. Nếu đã sử dụng hóa chất và kháng sinh trong ao thì khoảng 2 – 3 ngày sau nên sử dụng vi sinh để khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong ao để cải thiện chất lượng nước và đáy ao.

Đa phần các sản phẩm vi sinh ở dạng bột, người nuôi nên cân trọng lượng liều phù hợp với đối tượng nuôi, mật độ và diện tích / thể tích ao nuôi. Cách sử dụng men vi sinh dạng bột là nên cho vào chậu một ít nước trước khi đổ sản phẩm vào để hạn chế bị gió tạt, khuấy đều và tạt khắp ao.

Thời gian xử lý vi sinh tốt nhất là lúc trời nắng và khi môi trường trong ao đã đủ lượng oxy hòa tan để các dòng vi khuẩn nhanh chóng được khởi động và nhân rộng sinh khối.

Có một quan niệm nên thay đổi về cách sử dụng men vi sinh là việc không sử dụng trước khi thả giống và sau khi thu hoạch, sử dụng loại men chất lượng trung bình, cắt giảm liều ở giai đoạn nuôi đầu vụ thì đều không thích hợp.

Môi trường ao nuôi trước khi thả giống đã được cải tạo và diệt khuẩn kỹ nên rất cần liều vi sinh mầm đầu tiên để nhân rộng sinh khối vi khuẩn có lợi đủ để lấn át vi khuẩn có hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao, đồng thời duy trì sử dụng vi sinh trong suốt quá trình nuôi để tạo môi trường thuận lợi nhất cho tôm phát triển.

Mặt khác, sau khi thu hoạch, ao nuôi còn lại rất nhiều các chất thải, cặn bã, phân tôm, xác tảo, bùn đen, mùi hôi thối, … cho nên cần sử dụng vi sinh để xử lý nước và đáy ao trước khi xả thải ra môi trường nhằm duy trì cho ao nuôi / vùng nuôi an toàn sinh học và bền vững ở các vụ tiếp theo.

Nên lưu ý rằng chi phí xử lý sự cố / rủi ro biến động môi trường hoặc phục hồi môi trường thì rất tốn kém, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tỉ lệ sống của tôm hoặc thủy sản nuôi. Men vi sinh không phải là liều thuốc tiên, nên không thể khi nào có sự cố môi trường thì mới sử dụng.

Cần định kỳ xử lý vi sinh để duy trì một mật độ vi khuẩn thích hợp nhằm kiểm soát sinh học môi trường nước và đáy ao, ổn định các điều kiện mong muốn trong môi trường nuôi trồng, ngăn ngừa và lấn át các loài vi khuẩn gây bệnh, tảo độc và mầm bệnh tiềm tàng trong ao

. Người nuôi nên áp dụng quy trình xử lý vi sinh trước, trong và sau mỗi vụ nuôi.

Men vi sinh nên được bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp, nóng và nơi ẩm thấp. Nếu sử dụng không hết gói thì gói kín phần còn lại, cần tránh ẩm để không bị đóng vón.

Tóm lại, chọn một loại men vi sinh tốt sử dụng đúng cách kết hợp trong quy trình nuôi an toàn sinh học sẽ giúp người nuôi quản lý và theo dõi môi trường nuôi thuận lợi hơn và đảm bảo an toàn sức khỏe cho tôm và thủy sản nuôi khác.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-bang-vi-sinh-tiet-kiem-ma-hieu-qua-36692.html

Lợi ích sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Nhưng gần đây việc sử dụng chúng để điều trị bệnh cho các đối tượng nuôi thường không đạt hiệu quả cao, do một trong số các nguyên nhân sau:

Lợi ích sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Lạm dụng trong điều trị hoặc sử dụng nhiều lần với liều lượng thấp gây ra lờn thuốc đối với vi khuẩn gây bệnh, hoặc do sử dụng không đúng cách hình thành một số gen kháng thuốc tồn tại trong vi khuẩn gây bệnh.

Gần đây, xuất hiện một số mô hình nuôi tôm sạch sử dụng chế phẩm sinh học thay thế hóa chất, kháng sinh đem lại hiệu quả cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản.

Tuy nhiên, chế phẩm sinh học không có tác dụng trong điều trị bệnh nhưng giúp cải thiện chất lượng nguồn nước ao nuôi, trộn vào thức ăn để hỗ trợ tiêu hóa cho động vật  thủy sản.

Chế phẩm sinh học (men vi sinh) là các nhóm vi sinh vật ( là những loài vi khuẩn sống có lợi) như nhóm: Bacillus spp, Lactobacillus spp, Nitrosomonas spp, Nitrobacter spp, hoặc trong thành phần có chứa các enzyme (men vi sinh) như: Protease, Lipase, Amylase.

Một số nhà sản xuất còn phối trộn vi khuẩn có lợi và men vi sinh hoặc bổ sung thêm một số vitamin nhằm tăng cường sức đề kháng cho động vật thủy sản. Khi đưa chế phẩm sinh học vào môi trường nước ao nuôi, chúng ta cần phải kích hoạt và làm tăng sinh khối các vi khuẩn có lợi để chúng hoạt động và tăng mật độ.

Sự tăng sinh sẽ tạo ra một số lượng lớn vi khuẩn hoạt động trong môi trường ao nuôi và đem đến một số lợi ích như:

– Phân hủy các chất hữu cơ trong nước, hấp thu xác tảo chết và làm giảm lớp bùn ở đáy ao. – Giảm các độc tố trong môi trường nước do các chất khí:

NH3, H2S…phát sinh, do đó giảm mùi hôi trong nước, giúp tôm cá phát triển tốt.

–  Năng cao khả năng miễn dịch của động vật thủy sản.

– Ức chế sự hoạt động và phát triển của các vi khuẩn có hại do quá trình tăng sinh làm cho số lượng vi khuẩn có lợi tăng lên lấn át và kìm hảm hãm sự phát triển của các vi khuẩn gây hại, do đó hạn chế mầm bệnh phát triển.

Cần bổ xung chế phẩm sinh học định kỳ vào ao nuôi nhằm đảm bảo vi khuẩn có lợi tồn tại trong ao với số lượng lớn và để phòng bệnh cho động vật thủy sản.

– Ổn định pH của nước, ổn định màu nước do chế phẩm sinh học hấp thu chất dinh dưỡng hòa tan trong nước hạn chế tảo phát triển nhiều, giảm chi phí xử lý nước trong quá trình nuôi, tăng oxy hòa tan trong nước giúp động vật thủy sản khỏe mạnh và phát triển.

Khi trộn chế phẩm sinh học(men vi sinh, men tiêu hóa) vào thức ăn có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, giúp hấp thu tốt thức ăn, làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn (giảm hệ số thức ăn), thúc đẩy tăng trưởng.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/loi-ich-su-dung-che-pham-sinh-hoc-trong-nuoi-trong-thuy-san-36698.html

Vi khuẩn là gì

Vi khuẩn có hại có thể gây bệnh cho chúng ta. Bên cạnh hại khuẩn, chúng ta có lợi khuẩn – chúng giúp chúng ta tiêu hóa thức ăn, hoặc nhờ lợi khuẩn trong phân bón hữu cơ để biến chất thải thức ăn thành đất mới.

Vi khuẩn là những vi sinh vật sống, những đơn bào nhỏ gọi là tế bào nhân sơ không chứa nhân và thường tìm thấy những nhóm rất lớn bởi vì chúng có thể sinh sản nhanh chóng.

Có rất nhiều loại vi khuẩn khác nhau và được chia thành những loại và nhóm khác nhau, mỗi một nhóm có các đặc tính rất riêng biệt.

Vi khuẩn là những tế bào đơn giản nhất và nhỏ hơn tế bào người rất nhiều, bằng 1/100 kích thước tế bào người.

Các tế bào người lớn nhất bằng đường kính của sợi tóc, nhưng đa phần các tế người nhỏ bằng 1/10 đường kính sợi tóc. Bởi vì vi khuẩn rất nhỏ nên chúng ta chỉ có thể nhìn thấy được qua kính hiển vi.

 

Mẫu vi khuẩn E. coli

Vi khuẩn được bao phủ bởi lớp màng tế bào, bên trong màng là tế bào chất gồm 70% là nước và 30% là các enzyme (các protein mà tế bào tự tạo ra để dùng làm nguồn năng lượng).

Ở giữa tế bào là ADN hình cầu. ADN về cơ bản là một mẫu để thông tin cho tế bào tạo ra các protein của riêng nó như thế nào.

Nếu bạn có thể duỗi thẳng chuỗi ADN ra thành một sợi dài, thì thực sự kinh ngạc bởi nó có chiều dài gấp 1.000 lần chiều dài của tế bào vi khuẩn.

ADN của một tế bào vi khuẩn không được bảo vệ, nó nổi trong tế bào chất. Bên ngoài tế bào có các sợi dài gọi là tiên mao để giúp cho tế bào di chuyển. Không phải tất cả vi khuẩn đều có tiên mao, một số loài vẫn có các cách di chuyển khác nhau.

Dù vi khuẩn là tế bào cực nhỏ, nhưng chúng cũng có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau.

Hình dạng phổ biến nhất là hình que, hình cầu, hình xoắn ốc, và trong những nhóm hình dạng này vi khuẩn có thể to, nhỏ, bầu dục, mập, dài, ngắn và thậm chí đầu này dày hơn đầu kia. Sự khác nhau về kích thước và hình dạng của vi khuẩn là do tất cả chúng có gien khác nhau (ADN).

Toàn bộ các đặc tính này gọi là hình thái học của vi khuẩn. Vi khuẩn cũng có thể tồn tại ở các dạng đơn bào hoặc thành nhóm như các chuỗi, các cặp và các cụm.

Trong khi hầu hết vi khuẩn phải tìm thức ăn (đường, protein (chất đạm), vitamin) để sống, một số khác có thể tự tạo ra thức ăn cho chúng từ các thứ trong môi trường như ánh nắng và carbon dioxide.

Một số vi khuẩn cần năng lượng từ môi trường để làm thức ăn, trong khi một số vi khuẩn khác có thể tự tạo ra năng lượng bằng cách sử dụng các nguyên tố khác chung quanh nó.

Một số loài vi khuẩn có thể mọc tốt nhất ở những nơi mát, ẩm thấp như trong đất hoặc ở trong ao, trong khi số khác có thể mọc ở những nơi nóng như trong máy nước nóng hoặc gần núi lửa dưới biển.

Thậm chí có loài vi khuẩn có thể chịu được hơi phóng xạ mạnh gấp 1.000 lần. Vi khuẩn hiện diện khắp nơi.

Có những loài vi khuẩn gây bệnh trên người, động vật và thực vật, chúng có thể lây nhiễm bằng cách có mặt trong những gì mà bạn ăn và uống. Một vài loài vi khuẩn có hại như E. coliSalmonellaCampylobacter và Legionella.

Khi tế bào phân chia, mỗi một tế bào mới là bản sao chính xác của tế bào mẹ theo như mô hình sau:

Một số loài vi khuẩn có thể nhân đôi quần thể của chúng chỉ trong vòng 20 phút.

Chỉ với một tế bào vi khuẩn và chỉ trong 4,5 giờ đồng hồ có thể sản sinh trên 16.000 tế bào. Vì thế vi khuẩn chẳng mất nhiều thời gian để tạo ra đủ lượng tế bào vi khuẩn để làm cho bạn ốm.

Chúng ta có thể bảo vệ chính mình khỏi các loài vi khuẩn gây bệnh ngay cả khi không thể nhìn thấy chúng.

Điều quan trọng là bạn luôn luôn rửa tay sau khi đi vệ sinh và hỉ mũi, rửa tay trước khi ăn và chuẩn bị thức ăn cho chính mình và cho người khác. Sau mỗi bữa ăn, cất thức ăn thừa vào trong tủ lạnh càng sớm càng tốt.

Không uống nước bẩn như nước từ bể bơi, sông, ao, hồ. Dù nhìn thấy nước có thể sạch sẽ và trong, nhưng có thể có các tế bào vi khuẩn nhỏ bé ở đó!

Nếu cẩn thận, bạn có thể tránh được vi khuẩn có hại và luôn biết rằng có nhiều loài vi khuẩn có lợi đang giúp đỡ chúng ta hàng ngày!

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/vi-khuan-la-gi-36705.html

Đục cơ trên tôm và những cách phòng ngừa

Dấu hiệu chung của bệnh hoại tử cơ IMNV

(a) Tôm thẻ chân trắng nuôi từ một ổ dịch tự nhiên, biểu hiện mức độ hoại tử cơ xương khác nhau, có thể nhìn thấy vùng bụng biến sang màu trắng đục.

Đục cơ trên tôm và những cách phòng ngừa

(b) Tôm thẻ chân trắng sạch bệnh SPF thực nghiệm tiêm vi thể virút (virion) IMN thuần khiết.

Tôm ở phía trên thể hiện rõ dấu hiệu hoại tử cơ dọc theo bụng, đặc biệt rõ là đốt bụng thứ sáu (mũi tên). Tôm ở phía dưới là con tôm bình thường, từ bể đối chứng âm tính, chỉ tiêm muối vô trùng 2%.

Đục cơ do bệnh

Ở vùng nuôi tôm có độ mặn tương đối cao (25 – 35‰), khi nước ao bị ô nhiễm, ở một số con tôm trên cơ thể chuyển sang trắng đục.

Nguyên nhân gây bệnh là do vi bào tử trùng (Microsporidian).

Ngoài ra, tôm nhiễm virus IMNV (Infectiuos Myonecrosis Virus) cơ thể cũng chuyển sang trắng đục.

Các điểm hoại tử nhỏ bắt đầu ở phần đuôi rồi lan dần ra toàn thân.

Tỷ lệ chết khá cao trong thời gian dài (40 – 70%).

Cho đến nay vẫn chưa có biện pháp chữa trị mà chủ yếu vẫn áp dụng phòng bệnh tổng hợp như không dùng tôm bố mẹ nhiễm bệnh trong các trại giống, loại bỏ những tôm bệnh ra khỏi ao nuôi và làm tốt công tác cải tạo và quản lý tốt môi trường ao.

Đục cơ do nhiệt độ

Hiện tượng này xảy ra khi nhấc nhá (sàng, vó) lên khỏi mặt nước để kiểm tra sức ăn của tôm (vào ban ngày).

Tôm trong nhá, vó sẽ nhảy lên búng mạnh, gặp nhiệt độ cao, một số con bị cong thân. Đuôi uốn cong chạm đến phần giáp ngực, phần cơ chạy dọc cơ thể sẽ trở nên trắng đục.

Khi thả trở lại ao, số lượng tôm cong thân sẽ chết vì không tự duỗi thẳng lại được.

Tương tự, khi sử dụng chài tôm kiểm tra lúc nắng nóng, lượng tôm đục cơ và cong thân cũng xảy ra nhiều. Biện pháp để hạn chế hiện tượng này là không sử dụng nhá, vó để kiểm tra tôm trong ao khi thời tiết nắng nóng.

Hiện tượng tôm cong thân cũng thường xảy ra khi người nuôi tắt tất cả quạt khí rồi sau đó bật quạt chạy trở lại làm tôm bị “giật mình”, nhiều con sẽ nhảy lên mặt nước tạo thành “làn sóng” chạy dọc theo ao.

Một số tôm khi nhảy lên mặt nước sẽ bị cong thân khi tiếp xúc không khí và chuyển sang trắng cơ. Hiện tượng này thường xảy ra vào nửa đêm khi tôm đạt kích cỡ 10 g/con trở lên.

Do vậy người nuôi không chú ý đến hiện tượng này và đến ngày hôm sau mới phát hiện có tôm chết trong ao.

Hiện tượng này thường xảy ra khi thời tiết có nhiệt độ cao và trong ao có tảo giáp phát triển. Mật độ tảo giáp cao làm nước có màu nâu đỏ và tôm yếu đi. Biện pháp hạn chế, người nuôi không nên tắt hết tất cả quạt khí vì bất cứ lý do gì mà nên duy trì hoạt động ít nhất một dàn quạt, kể cả khi cho tôm ăn.

Đục cơ do chuyển ao

Khi kéo lưới để bắt tôm cho mục đích thu tỉa hay chuyển sang ao mới, một số tôm sẽ bị sốc, một phần hay toàn bộ cơ thịt của nó sẽ bị trắng đục, hoặc thỉnh thoảng có sự pha lẫn giữa màu trắng và màu tối khác thường, như màu cam hoặc đỏ hồng.

Hầu hết tôm có màu khác thường này sẽ chết sau thời gian ngắn.

Những con khác bị nhẹ nếu có hồi phục thì cũng mất vài ngày màu sắc cơ thể mới trở lại bình thường. Biện pháp tốt nhất cần kiểm tra sức khỏe của tôm trước khi chuyển sang ao mới.

Nếu bắt đầu chuyển tôm mà phát hiện thấy một vài con chuyển sang trắng đục thì nên tạm dừng. Nước dùng vận chuyển tôm phải ở nhiệt độ 24 – 250C và hàm lượng ôxy cao (5 mg/l trở lên).

Đục cơ do ôxy thấp

Lượng ôxy trong nước ao nuôi sẽ thấp nếu không lắp đủ các dàn quạt khí tương ứng trọng lượng tôm trong ao.

Theo kinh nghiệm, mỗi mã lực (HP) máy quạt nước sẽ cung cấp đủ ôxy cho 400 – 500 kg TTCT. Người nuôi nên tính số lượng dàn quạt nước vừa đủ cung cấp ôxy cho lượng tôm có trong ao.

Ngoài ra, vị trí đặt dàn quạt nước cũng rất quan trọng, lắp đặt các dàn quạt nước đúng vị trí sẽ tạo được dòng chảy quy tụ chất thải vào giữa ao, làm đáy ao luôn sạch, đồng thời hàm lượng ôxy được khuyếch tán vào mọi vị trí trong ao, nhất là giữa ao, nơi diễn ra sự phân huỷ các chất hữu cơ được tích tụ từ xác tảo tàn và thức ăn dư thừa.

Quá trình phân hủy các chất hữu cơ tăng lên trong suốt vụ nuôi và đây là nguyên nhân làm lượng ôxy hòa tan trong nước giảm xuống thấp.

Chất thải hữu cơ tích tụ trong ao sẽ được vi khuẩn phân hủy và hoạt động sống của chúng cũng cần một lượng lớn ôxy.

Khi trời có nhiều mây mù hoặc mưa vài ngày liên tục, tảo sẽ không thể quang hợp tốt và sẽ không tạo ra nhiều ôxy.

Trong khi đó, mọi sinh vật sống trong ao (bao gồm tôm, tảo và vi sinh vật) đều sử dụng ôxy.

Ôxy hoà tan trong nước không đều và rất thấp ở giữa ao, nhất là những ao không có sự trao đổi nước thường xuyên và thả tôm mật độ cao.

Khi có nhiều tôm, người nuôi phải cung cấp nhiều thức ăn và màu nước ao sẽ đậm vì tảo phát triển dày đặc.

Nếu ôxy trong ao tôm từ 4 mg/l trở lên, cơ thể TTCT có màu sáng bình thường; những ao nuôi mật độ cao và ôxy hòa tan thấp thì tôm sẽ bị stress và cơ thể sẽ có xu hướng chuyển thành màu trắng hay mờ đục.

Khi hàm lượng ôxy xuống thấp 1,7 ppm thì tôm sẽ bơi lên mặt nước (tôm nổi đầu) và hầu hết sẽ chết khi lột xác.

Hiện tượng này đã được chứng minh ở phòng thí nghiệm Aquaculture Business Research Center của Đại học Kasetsart, Thái Lan.

Vậy, để phòng ngừa đục cơ trên tôm nuôi, cần luôn duy trì quạt nước cung cấp đủ hàm lượng ôxy hòa tan cho ao nuôi, giúp tôm hô hấp tốt và phát triển nhanh.

>> Nguyên nhân gây đục cơ ở TTCT do bệnh lý hoặc các thao tác khác gây ra. Do vậy, khi phát hiện tôm bị đục cơ, người nuôi cần căn cứ vào các trường hợp cụ thể để có biện pháp phòng trị kịp thời.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/duc-co-tren-tom-va-nhung-cach-phong-ngua-36712.html

Silic, tảo cát trong nuôi trồng thủy sản

Tảo cát có giá trị dinh dưỡng tốt và không làm suy giảm chất lượng nước, vì vậy người nuôi tôm thường cố gắng tăng mức độ tảo cát cân xứng với các loại tảo khác.

Silic, tảo cát trong nuôi trồng thủy sản

Để hỗ trợ tảo cát sinh trưởng, người nuôi nên sử dụng các sản phẩm silica có 20% silic.

Tuy nhiên, silicat có giá trị trung hòa thấp hơn vôi hoặc vôi nông nghiệp – là loại rẻ hơn và sẵn có hơn.

Tiến sĩ Claude E. Boyd, Khoa Thủy sản và Liên minh nuôi trồng thủy sản

Đại học Auburn, Auburn, Alabama 36849 USA

Các ao nuôi trồng thủy sản đều mong muốn có mức độ tảo cát đáng kể vì tảo cát có giá trị dinh dưỡng cao, đặc biệt khi nuôi tôm nhỏ.

Silic có nhiều trong vỏ trái đất và chỉ đứng thứ hai sau oxy.

Nhiều loại cát gồm cả silica (silic dioxide hoặc SiO2) và khoáng vật sét là silicat nhôm ngậm nước.

Các khối nước tự nhiên chứa silic do sự hòa tan của khoáng silicat với nước mà chúng tiếp xúc.

Ví dụ, silic dioxide phản ứng trong nước để tạo thành axit silic là một axit yếu phần lớn không bị ion hóa trong phạm vi pH của hầu hết các khối nước tự nhiên.

Khi canxi silicat phản ứng với cacbon dioxide trong nước, các chất hòa tan cuối cùng là các ion canxi, ion bicarbonate (kiềm) và axit silic.

Hàm lượng silic trong nước tự nhiên điển hình được báo cáo ở dạng SiO2 và thường nằm trong khoảng từ 5 đến 25 mg/L trong nước ngọt. Mức trung bình phổ biển của silica trong nước sông là 13,1 mg/L. Nước biển bình thường chứa 6,4 mg/L silica. Hàm lượng silica có thể được chuyển sang silic cô đặc bằng cách nhân với hệ số 0,467 – tỷ lệ silic trong SiO2.

Thực vật hấp thu axit silic từ nước. Silic ở các loài thực vật bậc cao được tích lũy vào thành tế bào, làm thân và lá khỏe mạnh cứng cáp.

Trong số thực vật phù du, tảo cát có nhu cầu đặc biệt là silic do lớp vỏ của chúng – thành tế bào cứng nhưng xốp – được cấu tạo gần như hoàn toàn bởi silica.

Tùy thuộc vào các loài, thực vật có từ ít hơn 0,1% đến nhiều là 10,0% silic tính theo cơ sở trọng lượng khô.

Tảo cát có lượng silic nhiều nhất.

Tảo cát và Silic

Tỷ lệ cacbon : nitơ : silic : phốt pho trong các tế bào tảo cát trung bình là 106:15:16:1. Như thế, tảo cát cần lượng nitơ và silic tương đương nhau để phát triển. Có bằng chứng cho thấy tỉ lệ nitơ : silic trên 3:1 làm giảm tốc độ phát triển của tảo cát.

Cũng có ý kiến ​​cho rằng tảo cát phát triển nhiều tương xứng với loài tảo khác khi tỷ lệ nitơ : phốt pho trong nước lớn. Giả thuyết này chưa được chứng minh qua nghiên cứu, hơn nữa tảo – kể cả tảo cát – xu hướng có tỷ lệ nitơ : phốt pho khoảng 15:1.

Nước biển không ô nhiễm điển hình có hàm lượng nitrat nitơ lớn hơn amoni nitơ. Do tảo cát phát triển mạnh trong nước biển nên thường được cho rằng chúng ưa nguồn nitơ là nitrat hơn amoni. Ngoài ra, amoni có xu hướng làm giảm sự hấp thu nitrat của thực vật phù du và amoni là nguồn nitơ ưa thích của tảo lục và tảo lam.

Các ao nuôi trồng thủy sản điển hình có hàm lượng nitơ amoni cao hơn nitơ nitrat, một yếu tố có vẻ như để ngăn cản sự phát triển của tảo cát và tạo thuận lợi cho tảo lục và tảo lam phát triển.

Các nghiên cứu về các hồ vùng ôn đới đã cho thấy tảo cát thường nở hoa vào mùa xuân, nhưng hiện tượng này dẫn đến hàm lượng silica giảm. Một khi hàm lượng silic giảm, các loài thực vật phù du khác mà không cần silic thường thay thế và trội hơn tảo cát.

Sử dụng phân bón như natri nitrat và natri silicat theo tỷ lệ nitơ : silic là 1:1 trong nước có độ mặn 9-10 ppt và chứa 0,21 mg/L silica tại Trung tâm Nuôi trồng Hải sản Peteet Claude ở Vịnh Shores, Alabama, Hoa Kỳ đã được nhận thấy là khá hiệu quả làm tăng mức độ tảo cát và tỷ lệ của chúng trong tổng số thực vật phù du.

Tất nhiên, ở tình trạng này, hàm lượng silica rất thấp – nước biển bình thường chứa 6,4 mg/L silica.

Tảo cát phát triển khá tốt ở hàm lượng silic có trong nước biển và chưa biết được hàm lượng silic phải giảm xuống như thế nào trước khi mức tăng trưởng của tảo cát bị tác động xấu.

Thúc đẩy tảo cát sinh trưởng

Thảo luận trên đây cho thấy mối quan hệ giữa độ nhiều tương đối của tảo cát, tỷ lệ nitơ : silic, hàm lượng silic và mức sẵn có nitrat.

Tảo cát được xem là nhóm tảo mong muốn có trong các ao nuôi trồng thủy sản vì hiếm khi liên quan đến chất lượng nước suy giảm và có giá trị dinh dưỡng tốt cho nhiều loài thủy sản và đặc biệt cho tôm giống postlarvae.

Mặc dù đã có một chút nỗ lực để thúc đẩy tảo cát tăng trưởng trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt, người nuôi tôm – đặc biệt là ở Trung và Nam Mỹ – thường cố gắng để tăng mức độ tảo cát nhiều tương xứng với các loài tảo khác ở nước biển và nước lợ.

Kỹ thuật chính được sử dụng để thúc đẩy tảo cát phát triển là phân bón silicat, nhưng phân bón natri nitrat cũng là cách thực hành phổ biến.

Sử dụng phân bón silicat cần lưu tâm chút ít đến hàm lượng silic trong các ao và dường như không chắc đúng với các ao có hàm lượng silic gần với hàm lượng có trong nước biển bình thường sẽ phản ứng với phân bón silicat.

Cách làm thận trọng sẽ là đo hàm lượng silic và nếu dưới 6,4 mg SiO2/L – giá trị trong nước biển, có thể dùng silicat với nỗ lực để đạt được hàm lượng nhắm tới.

Mong muốn để biết được mối quan hệ giữa hàm lượng silica và mức tăng trưởng của tảo cát, nhưng chủ đề này chưa được nghiên cứu trong các ao nuôi trồng thủy sản.

Thiếu thông tin về các mối quan hệ giữa các tỷ lệ phân bón silicat và hàm lượng silic trong nước, silica biến mất nhanh khỏi nước như thế nào cũng làm phức tạp những nỗ lực để thức đẩy tảo cát tăng trưởng.

Tuy nhiên, giả sử hòa tan hoàn toàn phân bón silicat thì 1 mg/L SiO2 sẽ cần 2,03 mg/L natri metasilicat hoặc 1,93 mg/L canxi metasilicate.

Ở 1 ao rộng 1 ha sâu 1 m, mức xử lý cần thiết để có được 1 mg/L SiO2 tương ứng sẽ là 20,3 và 19,3 mg/L đối với natri metasilicate và canxi metasilicate.

Phân bón silicat không hòa tan hoàn toàn khi rải khắp ao và nên sử dụng gấp 1,5 – 2,0 lần mức ước tính trên để tăng hàm lượng silic theo 1 mg SiO2/L.

Phân bón silicat

Một số cửa hàng cung cấp phân bón tiêu chuẩn chứa 2,5 – 5,0 % SiO2.

Ở mức sử dụng điển hình từ 10 – 20 kg/ha, việc bổ sung silica sẽ không làm tăng đáng kể hàm lượng silic hòa tan.

Vì vậy, người nuôi nên sử dụng một sản phẩm silica có 20,0% silic (khoảng 43,0% SiO2) hơn là trông cậy vào một lượng nhỏ silica thường có trong các loại phân bón tiêu chuẩn.

Phân bón silicat cũng là các loại vôi có thể trung hòa độ chua đất đáy ao và nâng tổng kiềm trong nước ao.

Ví dụ với canxi silicat, các ion canxi cho vào trầm tích có tính axit sẽ thay thế các ion mang tính axit trong đất. Các ion hydro từ sự thay thế của các ion có tính axit từ đất liên kết trong axit silic không phân ly:

CaSiO3 + 2H+ + H2O –> Ca2+ + H4SiO4

(CaSiO3 = Canxi silicat, H4SiO4 = Axit Silic)

Trong nước pH trên 5 và chứa cacbon dioxide, phản ứng như sau:

CaSiO3 + 2CO2 + 3H2O –> Ca2+ + 2HCO3- + H4SiO4

Tuy nhiên, silicat có giá trị trung hòa thấp hơn vôi hoặc vôi nông nghiệp, như đã minh họa ở Bảng 1 đối với các hợp chất tinh khiết. Vôi và vôi nông nghiệp có sẵn ở nhiều nơi và cũng rẻ hơn silicat.

Bảng 1. Các giá trị trung hòa của các hợp chất tinh khiết được dùng như các loại vôi

Hợp chất

Giá trị trung hòa (%)

Canxi silicatNatri silicat

Calcitic limestone (vôi nông nghiệp)

Calcium hydroxide (vôi tôi)

Calcium oxide (vôi sống)

86

82

100

135

179

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/silic-tao-cat-trong-nuoi-trong-thuy-san-36719.html

Phơi khô đáy ao, rải vôi – Quá trình khử trùng trong các ao nuôi tôm bán thâm canh

Vì hầu hết đất trở nên quá khô cho quá trình vi khuẩn phân hủy các chất hữu cơ trong vòng ba tuần, nên ít cần nhiều thời gian như thế để làm khô đáy ao.

Phơi khô đáy ao, rải vôi - Quá trình khử trùng trong các ao nuôi tôm bán thâm canh

Đáy ao có cặn lắng sâu nên hút bỏ để tạo điều kiện phơi khô ao. Ao có pH đất dưới 7,5 nên được rải vôi để tăng cường sự phân hủy.

Tiến sĩ Li Li, Trường Thủy sản và Khoa học Đời sống, Đại học Hải Dương Thượng Hải, Thượng Hải, Trung Quốc

Julio F. Queiroz, Thư viện Môi trường Embrapa, São Paulo, Brazil

Tiến sĩ Claude E. Boyd, Trường Thủy sản, Nuôi trồng Thủy sản và Khoa học Thủy sản, Đại học Auburn, Alabama 36849, Hoa Kỳ

Trái: Việc tháo nước sau thu hoạch để lại ao ướt. Phải: Phơi khô và rải vôi đáy ao giúp trung hòa độ chua của đất và tiêu diệt các sinh vật không mong muốn.

Ở châu Mỹ, nhiều nhà sản xuất tôm sử dụng các ao lớn và quản lý theo cách nuôi bán thâm canh. Các nhà sản xuất đã áp dụng các bước thực hành chính trong quản lý đáy ao nuôi là phơi khô ao và bón vôi giữa các vụ.

Có ba lý do cơ bản thực hiện các bước thực hành này: thúc đẩy phân hủy chất hữu cơ, trung hòa độ chua của đất và tiêu diệt các sinh vật không mong muốn kể cả tác nhân gây bệnh.

Độ ẩm đất ao, quá trình hô hấp

Ngay sau khi tháo nước ao, các lỗ rỗng ở đất đáy có đầy nước thường cạn kiệt oxy hòa tan, nhưng ở đáy ao khô, các lỗ rỗng và các vết nứt rạn trong đất có không khí chứa oxy khoảng 250 ppm.

Thông khí ở đất là kết quả của quá trình phơi khô làm tăng oxy sẵn có cho quá trình oxy hóa các chất hữu cơ bởi vi khuẩn hiếu khí và quá trình oxy hóa hóa học của các chất khử như sắt (II), mangan (II), nitrit và sulfide có trong đất vào cuối giai đoạn nuôi tăng trưởng.

Mối quan hệ giữa độ ẩm của đất và tốc độ hô hấp (phân hủy chất hữu cơ) ở 3 loại đất đáy được minh họa trong Hình 1. Quá trình hô hấp thấp cho đến khi độ ẩm của đất xuống dưới 30% và tốc độ hô hấp cao nhất ở trong khoảng độ ẩm từ 10 đến 20%. Tốc độ hô hấp giảm nhanh khi độ ẩm của đất xuống dưới 10%, bởi vì không có đủ độ ẩm cho hoạt động tối ưu của vi sinh vật.

Động vật thủy sinh lớn hơn có thể tồn tại ở các vũng nước nhỏ và chết khi các vũng nước trong đáy ao khô đi. Sinh vật phù du và vi sinh vật đất cũng chết vì khô hạn khi đất trở nên quá khô nên không có nước sẵn có cho quá trình sinh học.

Tất nhiên, một số loài vi sinh vật hình thành bào tử hoặc bào xác tồn tại khi khô hạn trong thời gian kéo dài, ngoài ra việc phơi khô ao chắc chắn làm giảm sự phong phú của vi sinh vật trong đất.

Trong một nghiên cứu thí nghiệm, cặn bùn lắng từ một ao mới tháo nước gần đây (đất A Hình 1) được duy trì ở độ ẩm tối ưu là 18% bằng cách thêm nước định kỳ.

Tốc độ hô hấp giảm đều đều khi sử dụng hết các chất hữu cơ dễ phân hủy (Hình 2). Tốc độ hô hấp sau 30 ngày chỉ bằng khoảng 20% so với mức ban đầu, và gần 80% tổng lượng khí carbon dioxide giải phóng nhờ quá trình hô hấp xảy ra trong vòng 20 ngày.

Điều này cho thấy chất hữu cơ có thể oxy hóa được dễ dàng thì một phần của chất hữu cơ đó có thể là vấn đề trong vụ tới – bị phân hủy rất nhanh.

Hơn nữa, hầu hết đất trở nên quá khô cho vi khuẩn phân hủy đáng kể các chất hữu cơ trong vòng hai đến ba tuần trong thời tiết khô. Cho nên không cần hơn 3 tuần để phơi khô đáy ao.

Đất ao phơi khô, cày xới

Đất đầu tiên khô trên bề mặt làm cản trở quá trình bốc hơi thêm và quá trình oxy hóa. Đất nứt vỡ thành các tảng hình trụ, tạo điều kiện phơi khô và thông khí, nhưng bề mặt tảng khô làm cản trở quá trình bốc hơi và quá trình oxy hóa. Đất khử hóa học sẫm màu – thường màu đen vì có sắt (II).

Bằng cách xới bề mặt đất hoặc phá vỡ đất cục, người ta có thể quan sát màu của đất và xác định đất đã được oxy hóa hay chưa.

Có thể xới đất để phá vỡ bề mặt và đập vụn đất cục sẽ giúp nhanh khô và thoáng khí. Có lẽ tốt nhất là dùng bừa đĩa để cày xới đáy ao.

Thông thường đủ để cày tới độ sâu từ 10 đến 15 cm, cách hiệu quả nhất cày đáy ao 2 lần theo hướng ngược nhau. Tất nhiên, việc cày xới tốt cho đất sét nặng hơn là bùn hoặc đất cát.

Nếu bùn cặn lắng tích tụ quá mức ở đáy ao, đất sẽ không khô hoàn toàn và không thể cày xới vì bùn đáy ướt sẽ không chịu được sức nặng của máy cày.

Ngoài ra, đất có thể quá ẩm và không thể tán vụn được. Ao có cặn lắng bùn sâu hơn từ 10 đến 15 cm thường được khuyến khích để loại bỏ bùn khỏi đáy ao nhằm tạo điều kiện phơi ao.

pH đất, rải vôi

pH của đất ao có tác động rõ rệt đến quá trình vi khuẩn phân hủy các chất hữu cơ như minh họa trong Hình 3. Ao có pH đất dưới 7,5 nên được rải vôi để tăng cường tốc độ phân hủy.

Có thể bón vôi bằng cách rải hoặc vôi nông nghiệp (đá vôi nghiền thành bột mịn) hoặc vôi (đá vôi được nung trong lò để lấy đi carbon dioxide CO2).

Có loại là vôi sống / nung bao gồm các oxit canxi và magiê hoặc như vôi tôi được làm ra bằng cách xử lý vôi sống với nước để chuyển đổi oxit để hydroxit. Về tính năng trung hòa axit, vôi sống và vôi tôi mạnh hơn khoảng 1,8 và 1,4 lần so với vôi nông nghiệp.

Mức bón vôi điển hình tùy vào việc sử dụng các loại vôi chất lượng cao ở loại đất có khoảng 30% đất sét như trong Bảng 1.

Giảm bón vôi đối với đất có kết cấu thô hoặc tăng lên đối với đất mịn hơn ở mức khoảng 200 kg / ha / tỷ lệ phần trăm đất sét.

Tuy nhiên, các nhà quản lý ao hiếm khi biết được hàm lượng đất sét của đất đáy và cách làm tốt nhất có lẽ là sử dụng các số liệu thể hiện trong Bảng 1 bất kể kết cấu đất.

Hình 1. Độ ẩm đất tác động đến quá trình hô hấp đất ở ba loại đất có hàm lượng cacbon hữu cơ khác nhau.

Hình 2. Sự hô hấp ở một mẫu đất lấy từ ao vừa mới tháo nước được duy trì ở độ ẩm đất tối ưu cho quá trình hô hấp.

Hình 3. Các tác động của pH lên quá trình hô hấp đất.

Đất nứt vỡ thành các tảng hình trụ. Bằng cách phá vỡ các tảng đất, người ta có thể quan sát màu đất và xác định xem đất đã được oxy hóa hay chưa.

Bảng 1. Tỉ lệ bón vôi cho đáy ao nuôi điển hình có khoảng 30% đất sét.

Tỉ lệ bón vôi (kg/ha)

pH đất

 

Vôi

nông nghiệp

Vôi tôi

Vôi sống

4,5 hoặc thấp hơn

4,6-5,0

5,1-5,5

5,6-6,0

6,1-6,5

6,6-7,5

Trên 7,5

6.000

5.000

4.000

3.000

2.000

1.000

0

4.500

3.700

3.000

2.200

1.500

750

0

3.400

2.800

2.200

1.700

1.100

600

0

 Tags: con tom, nuoi tom, thuy san, nuoi trong thuy san, ao nuoi tom, che pham sinh hoc, khu trung ao nuoi tom

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phoi-kho-day-ao-rai-voi-qua-trinh-khu-trung-trong-cac-ao-nuoi-tom-ban-tham-canh-36726.html

Mối liên hệ giữa sức khỏe tôm và biến động quần thể phytoplankton trong các ao nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh – Phần 1

Hình thức nuôi chủ yếu là thâm canh và siêu thâm canh, do đó cùng với việc tăng nhanh về diện tích và sản lượng thì môi trường ngày càng bị ô nhiễm dẫn đến tình hình dịch bệnh xảy ra nhiều hơn.

Mối liên hệ giữa sức khỏe tôm và biến động quần thể phytoplankton trong các ao nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh - Phần 1

Năm 2008, diện tích bị thiệt hại là 658 ha chủ yếu là do bệnh đôm trắng.

Tuy nhiên, dịch bệnh thật sự bùng phát từ năm 2010 đến năm 2012 với diện tích thiệt hại lên đến 7.068 ha, chủ yếu là do mắc hội chứng hoại tử cấp tính (bệnh tôm chết sớm) (Bộ NN&PTNT 2013).

Diện tích nuôi tôm bị bệnh tập trung chủ yếu ở vùng ĐBSCL và một số tỉnh khu vực Trung Trung Bộ.

Trong đó, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau là những vùng nuôi bị thiệt hại nặng nề nhất.

Vì vậy, ngành thủy sản nước ta đang tìm mọi cách để kiềm chế bệnh này bộc phát (Tng cục thủy sản 2013).

Mối liên hệ giữa sức khỏe tôm và biến động quần thể phytoplankton trong các ao nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) thâm canh

Việc nghiên cứu nâng cao chất lượng nước liên quan đến phát triển nuôi tôm là một trong những vấn đề cần quan tâm hàng đầu trong công tác này.

Nâng cao chất lượng nước sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và năng suất tôm nuôi đồng thời cũng giải quyết tác động tiêu cực lên môi trường của nghề nuôi (Landesman, 1994; Lacerda et al., 2006).

Việc khảo sát chất lượng nước trước đây chỉ bao gồm theo dõi các biến động chỉ tiêu thủy lý hóa (Jones et al., 2001).

Tuy nhiên, chất lượng nước nuôi tôm thường liên quan chặt chẽ đến liều lượng thức ăn, phân bón và hóa chất để ổn định đáy ao.

Do đó, chỉ sử dụng các chỉ số thủy lý hóa không thể phản ánh chính xác tình trạng môi trường một cách liên tục và đầy đủ, thiếu thông tin về quần thể sinh vật phù du nhằm chỉ thị sinh học cho chất lượng nước của hệ thống nuôi.

Phytoplankton (tảo) là một trong các chỉ số sinh học rất tốt cho thấy điều kiện môi trường và sức khỏe động vật thủy sản nuôi trong ao, vì chúng rất nhạy cảm với những thay đổi chất lượng nước.

Chúng phản ứng rõ rệt với nồng độ khác nhau của các chất hòa tan, mức độ dinh dưỡng của ao nuôi, các chất gây ô nhiễm độc hại, chất lượng thức ăn kém hoặc tốt… Điều kiện môi trường hiện tại của ao nuôi có thể được biết từ các chỉ số sinh khối, sự phong phú và mức độ đa dạng của chúng (Burford, 1997; Primavera , 1998).

Do đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp thông tin về mối liên quan của tảo và tình trạng sức khỏe tôm nuôi, kết quả này là dữ liệu cơ sở để đánh giá chất lượng nước trong nuôi tôm.

Phương pháp nghiên cứu

Tảo được thu từ 20 ao tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei).

Tôm nuôi 1 tháng tuổi với mật độ biến động từ 25 đến 140 con/m2 ở 2 vùng nuôi Sóc Trăng và Cà Mau thuộc ĐBSCL, bao gồm 2 nhóm ao bao gồm 10 ao tôm khỏe và 10 ao tôm bệnh (phần lớn tôm mắc bệnh teo gan tụy gây chết sớm).

Thời gian thu mẫu từ ngày 11/09/2012 đến 19/10/2012 chia thành 3 đợt thu với nhịp thu mẫu 15 ngày/lần.

Mẫu thu gồm hai chỉ tiêu: định tính và định lượng.

Mẫu định tính được lấy bằng lưới thu tảo, kích thước mắt lưới 30 μm.

Lưới được kéo hai bên bờ ao để thể tích nước qua lưới lọc càng nhiều càng tốt, sau đó cho mẫu thu được vào chai nhựa 110 mL và cố định bằng formol với nồng độ từ 2-4%.

Mẫu định lượng được thu bằng phương pháp lắng bằng cách thu mẫu nước ở nhiều điểm khác nhau trong thủy vực rồi cho vào xô nhựa 30 L, sau đó khuấy đảo đều nước trong xô rồi thu vào chai nhựa 1L, cố định mẫu bằng formol với nồng độ từ 2-4%.

Mẫu định tính được phân tích bằng cách định danh giống loài tảo dưới kính hiển vi dựa vào các tài liệu phân loại đã được công bố như Shirota (1966), Dương Đức Tiến (1978), Carmelo et al.

(1996), Dương Đức Tiến và Võ Hành (1997), Trương Ngọc An (1993)…

Trong quá trình định danh, tần suất xuất hiện của các giống loài tảo cũng được ghi nhận với các mức độ khác nhau dựa vào thang tần suất của Scheffer và Robinson (1939), trong đó: >60%: +++ (nhiều), 30-60%: ++ (vừa); <30%: + (ít).

Mẫu định lượng được xác định bằng buồng đếm Sedgewick-Rafter theo phương pháp của Boyd và Tucker (1992); Đồng thời nghiên cứu cũng sử dụng chỉ số Sorencen (1948) để đánh giá độ tương đồng về thành phần loài giữa các ao nuôi, và thương số tảo khuê (Diatom quotient) (Nygaard et al., 1949) xác định tình trạng dinh dưỡng của ao nuôi. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Cấu trúc thành phần giống loài tảo trong các ao tôm ở cả 2 vùng nuôi 

Tổng số 119 loài tảo thu được tại 2 vùng nuôi tôm Sóc Trăng, Cà Mau thuộc 5 ngành là tảo Khuê (Bacillariophyta), tảo lam (Cyanobacteria), tảo Mắt (Euglenophyta), tảo Lục (Chlorophyta) và tảo Giáp (Dinophyta).

Trong đó, tảo khuê là ngành chiếm số lượng nhiều nhất (73%) với 87 loài.

Tiếp theo là tảo giáp chiếm tỉ lệ thấp hơn với 10 loài (8%), các ngành còn lại là tảo mắt, tảo lục và tảo lam có số lượng giảm dần từ 9-8-4% (11-10-5 loài).

Tùy theo loại ao nuôi và vùng nuôi mà số loài và thành phần loài tảo khác nhau.

Tảo khuê đều chiếm ưu thế ở cả hai vùng nuôi tôm TCT (61,2-62,8%).

Trong các ao tôm TCT, các giống loài tảo lam có nguồn gốc nước ngọt xuất hiện nhiều, trong đó Phormidium sp.xuất hiện với tần suất khá cao.

Theo Alonso Rodriguez and Paez-Osuna (2003), thành phần tảo thay đổi trong các ao tôm phụ thuộc vào vùng địa lý, khí hậu, nồng độ muối và điều kiện nuôi.

Sự ưu thế của tảo khuê trong khảo sát này cũng tương tự như một số nghiên cứu của các tác giả khác, trong các nông trại nuôi tôm ở vịnh Gulf-California cho thấy tảo khuê có số loài phong phú nhất chiếm 415 loài tiếp theo là tảo giáp (Dinoflagellate) chiếm 270 loài (Licea et al., 1995; Monero et al., 1996).

Mặt khác, theo nhận định của Boyd and Daniel (1993) thì hầu hết người nuôi thích tỉ lệ tảo khuê cao trong quần thể tảo ở ao tôm, đó là nhóm tảo phát triển có lợi cho ao tôm.

Kết quả của khảo sát cũng cho thấy có khoảng hơn 52% các giống loài tảo khuê (45 loài) thuộc bộ phụ Pennales phát triển chủ yếu ở nước ngọt và vùng biển ven bờ với các giống như Gyrosigma, Navicula, Nitzschia, Surirella, Synedra,…

Tiếp theo đó tảo giáp, ngành tảo phát triển chủ yếu ở môi trường nước mặn xuất hiện chiếm vị trí thứ 2.

Mặt khác, các ngành tảo có nguồn gốc nước ngọt như tảo lam, tảo mắt và tảo lục cũng xuất hiện chiếm số lượng thấp là do sự biến động lớn của độ mặn từ 0-16‰ trong toàn đợt khảo sát.

Kết quả này cũng phù hợp với các nhận định, nhóm tảo khuê là nhóm tảo ưu thế trong ao nước lợ trong khi đó tảo lam là nhóm tảo phát triển mạnh ở các ao có độ muối thấp với nhiệt độ ôn hòa (Boyd, 1989).

Tuy nhiên, trong các ao tôm ở vùng nhiệt đới Mexico và một số vùng cận nhiệt đới khác trên thế giới, tảo lam là nhóm tảo phát triển ưu thế, tiếp theo là tảo hai rãnh và tảo khuê (Corte´s-Altamirano et al., 1994; Rungsupa et al., 1999).

Một số giống thường xuất hiện qua toàn đợt khảo sát như: Navicula, Gyrosigma, Nitzschia, Surirella, Synedra, Pleurosigma, Coscinodiscus, Cyclotella, Cymbella (tảo khuê), Gymnodinium, Peridinium (tảo giáp), Oscillatoria, Phormidium (tảo lam), Euglena(tảo mắt), Closterium và Scenedesmus (tảo lục). Biến động thành phần tảo giữa hai nhóm ao tôm khỏe và bệnh thuộc 2 vùng nuôi Sóc Trăng và Cà Mau

Ở vùng nuôi Sóc Trăng, kết quả nghiên cứu cho thấy có 113 loài tảo thuộc 5 ngành: tảo khuê, tảo giáp, tảo lam, tảo mắt và tảo lục.

Trong đó, tảo khuê ưu thế với 71 loài (62,83%).

Các ngành tảo mắt với 12,4% (14 loài), tảo lam chiếm 7,08% (8 loài), tảo giáp và tảo lục chiếm 8,85 % (10 loài).

Ở các ao tôm này nồng độ muối biến động khá lớn (0-16‰) do ảnh hưởng của vùng cửa sông Trần Đề và nguồn nước ngọt nội đồng, do vậy thành phần loài tảo khá đa dạng với nhiều giống loài tảo ở nước lợ mặn và cả nước ngọt.

Mặt khác, ở các ao tôm TCT thuộc vùng nuôi Cà Mau, thành phần tảo khuê cũng chiếm ưu thế với tỉ lệ cao 60-100% trên tổng số 80 loài; 4 ngành tảo còn lại đều có xuất hiện nhưng số loài thấp với tỉ lệ biến động từ 6,2-12,5%.

Nồng độ muối của nhóm ao này thuộc các thủy vực nước lợ dao động trong khoảng 2-11% nên thành phần tảo cũng đa dạng bao gồm nhiều ngành tảo xuất hiện đại diện cho cả 2 môi trường ngọt và lợ mặn.

Các kết quả này khẳng định tính đa dạng cao của tảo khuê ở các vùng nuôi lợ mặn gần cửa sông.

Mặt khác, có nhiều giống loài tảo đại diện cho các ngành tảo nước ngọt là tảo mắt, tảo lục và tảo lam có mặt trong mẫu thu cũng phù hợp với nhận định của Rodriguez and Paez-Osuna (2003),

Trong các hệ thống nuôi tôm khi nồng độ muối giảm thấp do sự trộn lẫn với nguồn nước ngọt từ sông thì các ngành tảo khác nhau bao gồm tảo khuê, tảo lam, tảo lục và tảo mắt cùng phát triển, sự phong phú của các ngành tảo này thay đổi phụ thuộc vào một số điều kiện như: ánh sáng, nồng độ muối, nhiệt độ và hàm lượng chất dinh dưỡng của ao nuôi.

Tổng số loài giữa ao tôm TCT khoẻ và ao tôm TCT bệnh vùng nuôi tôm Sóc Trăng và Cà Mau không khác biệt nhiều, số loài của 2 nhóm ao khỏe và bệnh lần lượt là 22±5 loài và 19±11 loài (Sóc Trăng); 12±3 loài và 15±3 loài (Cà Mau).

Trong đó, tảo khuê vẫn là ngành chiếm tỉ lệ lớn nhất ở cả 2 nhóm ao, 16±5 loài (chiếm tỉ lệ 76%) ở ao tôm khoẻ và 14±8 loài (67%) ở ao tôm bệnh.

Các ngành tảo còn lại chỉ có số loài rất ít (1-3 loài) ở cả 2 nhóm ao của 2 vùng nuôi.

Như vậy, cấu trúc thành phần PSTV trong ao tôm TCT khoẻ và ao tôm TCT bệnh không có sự khác biệt lớn về số lượng loài của từng ngành.

Một số giống loài thường gặp trong các mẫu thu là Tảo khuê trung tâm (Centriales) bao gồm: Actinocyclus, Coscinodiscus, Cyclotella, Thallasiosira… là nhóm tảo quan trọng trong các thủy vực ven biển (Ryther et al., 1981) bởi vì chúng là thức ăn cho nhóm sinh vật tiêu thụ cao hơn (Boyd, 1990).

Ứng dụng chỉ số tương tự của Sorencen (1948) để so sánh thành phần loài tảo giữa 2 nhóm ao tôm bệnh và tôm khỏe ở vùng nuôi Sóc Trăng, kết quả cho thấy thành phần loài tảo giữa 2 nhóm ao tương đồng là 63% và khác biệt là 37%.

Trong đó, sự khác biệt theo từng ngành: đối với tảo khuê là 29%, tảo lam 33%, tảo mắt 63%, tảo lục 66% và tảo giáp 66%.

Ở vùng nuôi Cà Mau, chỉ số này cho thấy sự tương đồng thành phần loài tảo giữa 2 nhóm ao là 57% và sự khác biệt là 42%.

Trong đó đối với ngành tảo khuê sự khác biệt là 29%, tảo lục 42%, tảo mắt 60%, tảo giáp 75% và tảo lam 100%.

Như vậy, sự khác biệt về thành phần loài tảo giữa 2 nhóm ao tôm bệnh và tôm khỏe ở cả 2 vùng nuôi tương đối cao biến động từ 37-42% và có sự khác biệt nhiều đối với nhóm tảo mắt, tảo lục, tảo lam và tảo giáp giữa 2 nhóm ao này.

Mặt khác, theo Healy (1973) tảo là nhóm sinh vật nhạy cảm, có những biến đổi sinh lý và thành phần loài đáng kể phụ thuộc vào hàm lượng chất dinh dưỡng của môi trường nên chúng là những chỉ số hữu ích cho biết về tình trạng dinh dưỡng của ao nuôi.

Trong nghiên cứu hiện tại khi sử dụng thương số tảo khuê (Diatom quotient) (Nygaard et al., 1949) giữa số loài tảo khuê trung tâm (Centrales) và số loài tảo khuê lông chim (Pennales) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở các ao tôm khảo sát cho thấy ở cả 2 vùng nuôi Sóc Trăng và Cà Mau các ao tôm đều giàu dinh dưỡng với giá trị của ao tôm khỏe và bệnh lần lượt là: 0,28 và 0,36 (Sóc Trăng); 0,54 và 0,57 (Cà Mau).

Nhiều tác giả cho rằng nếu chỉ dựa vào tính toán sinh khối tảo để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của ao nuôi thì phương pháp này có một số hạn chế nhất định bởi vì hàm lượng chlorophyll-a có thể bị thấp hơn giá trị thực do nhóm thực vật lớn phát triển mạnh.

Hơn nữa, sự hấp thu chất dinh dưỡng của chúng có thể làm sinh khối tảo thấp và do đó kết luận không chính xác về đặc điểm chất lượng nước.

Ngoài ra, sự hiện diện nhiều của các tập đoàn tảo có thể dẫn đến tính toán sai khi đếm mẫu nên kết quả định lượng tảo cũng không chính xác.

Do vậy, để đánh giá đúng tình trạng dinh dưỡng của thủy vực nên khảo sát chi tiết về thành phần loài tảo hiện diện, đặc biệt khi tảo thay đổi các giống loài phát triển ưu thế tiếp nối trong các giai đoạn khác nhau bởi sự thay đổi ánh sáng, nhiệt độ và nồng độ các chất dinh dưỡng của ao nuôi (Goldman and Mann, 1980; Yusoff and McNabb, 1997; Yusoff et al., 2002).

Kết quả phân tích thành phần giống loài tảo ở 2 nhóm ao tôm khỏe và bệnh của 2 vùng nuôi Sóc Trăng và Cà Mau cho thấy có nhiều giống loài chỉ thị giàu dinh dưỡng.

Palmer (1980) có đưa ra danh sách 60 loài tảo được gọi là tảo chỉ thị ô nhiễm “Pollution algae”, bao gồm các loài tảo thường xuyên có mặt trong các khu vực giàu chất hữu cơ.

Có 20 giống tảo trong danh sách này có mặt trong nghiên cứu hiện tại.

Mặt khác, Palmer’s (1969) đã liệt kê các giống tảo bao gồm: Oscillatoria, Euglena, Scenedesmus, Chlamydomonas, Navicula, Chlorella, Nitzschia  Ankistrodesmus chỉ thị các nguồn nước bị ô nhiễm hữu cơ và được nhiều tác giả đồng tình: Ratnasabapathy, (1975) Gunale and Balakrishnan, (1981); Goel et al.,(1986); Jafari and Gunale, (2006); Sanap, (2007).

Trong nghiên cứu này, tất cả các giống nêu trên đều có mặt ở hầu hết các ao tôm nằm trong danh sách nói trên.

Hơn nữa, các giống tảo Navicula, Nitzschia, Oscillatoria, Phormidium, Euglena là các giống thường xuyên có mặt lặp lại trong các ao tôm khảo sát.

Đối với giống tảo mắt Euglena, theo Palmer đây là giống tảo đứng đầu trong danh sách 60 loài chỉ thị ô nhiễm.

Mặt khác, theo Patrick, (1965) 2 giống tảoOscillatoria, Euglena là các giống chịu đựng ô nhiễm cao nên là sinh vật chỉ thị chắc chắn cho tình trạng phú dưỡng hóa.

Các kết quả nói trên cho thấy tình trạng phú dưỡng hóa của hầu hết các ao tôm khảo sát trong nghiên cứu, nhưng chưa thấy được sự khác biệt rõ ràng về mức độ giàu dinh dưỡng giữa 2 nhóm ao tôm khỏe và ao bệnh.

Tuy nhiên, theo Stumm et al.(1972), vấn đề rắc rối lớn cho các thủy vực nội địa là môi trường nước giàu dinh dưỡng xảy ra đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ của tảo, năng suất sinh học gia tăng sẽ kéo theo những thay đổi sinh học không tốt khác.

Do vậy, tình trạng phú dưỡng hóa ở các ao tôm này là một trong các nguyên nhân gây bệnh cho tôm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/moi-lien-he-giua-suc-khoe-tom-va-bien-dong-quan-the-phytoplankton-trong-cac-ao-nuoi-tom-the-chan-trang-tham-canh-phan-1-32523.html

Luân canh muối tôm hiểu để nuôi mới đạt hiệu quả

Được mùa muối

Ông Cao Xuân Linh – Chủ tịch UBND xã Tân Thuận cho biết: Từ năm 2009, mô hình thâm canh muối – tôm bắt đầu được HTX Thanh Phong triển khai thí điểm.

Luân canh muối tôm hiểu để nuôi mới đạt hiệu quả

Theo đó dựa vào thời tiết tại địa phương, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là làm vụ muối, còn từ tháng 5 đến tháng 10 thì nuôi tôm trên cùng diện tích.

Vụ muối vừa qua, năng suất trung bình đạt 15 tấn/ha.

Diện tích muối sản xuất trong 9 tháng là 90 ha, đạt 100% kế hoạch.

Sản lượng khai thác 10.200 tấn, đạt 108%, tăng so với cùng kỳ 240%.

Giá muối trải bạt thu mua tại xã trung bình ở mức 1.200 đồng/kg, còn muối truyền thống giá 1.000 đồng/kg.

Giá muối năm nay tăng cao so với cùng kỳ nên phần nào tạo thu nhập ổn định cho diêm dân.

Với 1ha đất sản xuất muối theo phương pháp trải bạt đạt năng suất bình quân 15 tấn.

Sau khi trừ các chi phí… nhiều hộ thu về hơn 100 triệu đồng.

Sản xuất muối trên sân trải bạt có ưu điểm là nước ít bị rò rỉ nên cho năng suất tối đa.

Nếu làm muối trên sân đất, khi xảy ra cơn mưa trái mùa hay làm lại vụ mới phải mất từ 2 – 3 ngày mới cải tạo xong đồng muối.

Còn làm muối trên sân trải bạt thì chỉ cần sáng cào muối, chiều là có thể đưa nước vào để làm vụ tiếp.

Điều này giảm mức đầu tư về thuê lao động, rút ngắn thời gian thu hoạch.

Tôm thất thu đến 40%

Sau khi vụ muối kết thúc, người dân tiến hành nuôi tôm ngay trên những ruộng muối.

Nhiều năm qua, nghề nuôi tôm trên ruộng muối đang là thế mạnh, góp phần quan trọng nâng cao thu nhập cho diêm dân xã Tân Thuận.

Thời điểm này, bà con đang tiến hành dọn vệ sinh ao hồ để chuẩn bị xuống giống tôm vụ 3.

Tuy nhiên trước đó, sau khi vụ 2 kết thúc toàn xã Tân Thuận có hơn 40% tôm nuôi bị bệnh chết trong tổng số 75ha.

Nguyên nhân được xác định do thời tiết diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng đến môi trường nuôi.

Đồng thời mật độ nuôi cao 150 – 200 con/m2 làm cho môi trường nuôi luôn bị ô nhiễm tạo nên tác nhân cho dịch bệnh bùng phát.

Bên cạnh đó, mùa mưa cũng là mùa tôm bị thiệt hại do điều kiện thời tiết không ổn định.

Chính vì vậy, để mô hình này mang lại hiệu quả, người nuôi cần có những kiến thức nhất định.

Theo kinh nghiệm của người nuôi, để tôm đạt năng suất, ít xảy ra dịch bệnh thì khi thu hoạch xong vụ muối, phải cải tạo ngay đáy ao, làm giảm bớt độ mặn thì tôm mới sinh trưởng, phát triển tốt.

Bên cạnh đó, ao nuôi phải bảo đảm mực nước từ 0,7m – 1m.

Mật độ tôm cần bảo đảm mức 15 con/m2.

Ngoài ra, người nuôi cần xét nghiệm và kiểm dịch đầy đủ con giống trước khi thả nuôi.

Khi tôm đến tuổi thu hoạch hoặc gặp sự cố dịch bệnh cần làm tốt việc bảo vệ môi trường cho nguồn nước chung, không xả nước bẩn nhiễm bệnh ra trực tiếp ngoài môi trường.

Những ao nuôi tôm sau mỗi vụ nuôi, nhất là ao nuôi đã xảy ra tình trạng tôm chết cần phải cho ao nghỉ và tiến hành cải tạo ao cho vụ mới là rất quan trọng.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/luan-canh-muoi-tom-hieu-de-nuoi-moi-dat-hieu-qua-32592.html