Monthly Archives: June 2017

Chế độ cho ăn mới trong giai đoạn ươm giống giúp tôm đạt hiệu suất tốt khi thả mật độ cao

Sự quan tâm dành cho việc sản xuất tôm nhiều giai đoạn đã được đổi mới khi con giống tôm thời kì hậu ấu trùng (viết tắt PL) được thả vào mương sâu trong giai đoạn ươm 1 thời gian ngắn trước khi được thả vào ao nuôi thương phẩm. Theo kết quả báo cáo của tổ chức tôm toàn cầu OP năm 2001 khảo sát về các trại tôm giống do Harvey Persyn và Randall Aungst thực hiện: những ưu điểm chính trong việc sử dụng trại ươm là để rút ngắn chu kỳ sản xuất trong các trại giống và trong nông trại, điều tiết số lượng của con giống PL từ trại giống đến trang trại và cải thiện sự sống còn của ao giống cũ, khiến con giống PL mạnh mẽ hơn. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ sống trong ao nhìn chung tăng hơn 15% nhờ áp dụng giai đoạn ươm giống khi nuôi.

Ở Châu Á, đặc trưng của các trại nuôi tôm chính là mức độ chuyên môn hóa cao. Một số nơi còn chuyên nuôi con giống PL đến 1 kích thước mong muốn để tránh nguy cơ tiếp xúc với các mầm bệnh tiềm ẩn trong ao. Ngoài ra, tôm giống được nuôi trong ao ươm nhìn chung thường có sự phát triển mang mạnh hơn, đó là điều kiện rất quan trọng để thích nghi với môi trường trang trại.

Tại Châu Mỹ, trại ươm được sử dụng chủ yếu trong các hệ thống sản xuất quản lý chuyên sâu để tận dụng tối đa cơ sở vật chất và an toàn sinh học. Đối với khí hậu ôn đới, hệ thống mương trong nhà sẽ được thả giống vào mùa xuân và cho phép sản xuất 2 vụ tôm 1 năm.

Thực hành cho ăn trong Trại ươm giống

Chi phí hoạt động lớn nhất của trại ươm chính là chi phí ban đầu dành cho con giống PL, vì thế tỷ lệ sống của chúng ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi nhuận. Theo Wickins and Lee (2002), tỷ lệ sống cần đạt được là 50-70%. Điều này chỉ có thể đạt được với quy trình quản lý cẩn thận và chế độ cho ăn tối ưu.

Trong cuộc khảo sát GAA năm 2001, người nuôi tôm ở Châu Á và Châu Mỹ thường hay cho ăn ấu trùng Artemia sinh khối và áp dụng chế độ cho ăn trại ươm. Một số nhà sản xuất giống tiếp tục cho ăn tảo trong giai đoạn ươm bởi vì ngoài việc có giá trị dinh dưỡng, nó còn giúp trong việc đối phó với các chất thải chứa nitơ ở mật độ cao và tỷ lệ ăn cao.

Thử nghiệm thả mật độ cao

Gần đây, 1 chế độ ăn hoàn chỉnh dành cho tôm nuôi trong mương được phát triển bởi INVE Technologies NV đang được thử nghiệm trên tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương Litopenaeus vannamei thả mật độ cao. Chế độ ăn uống RW+ với 48% protein và 13% chất béo, được thả vào bể nuôi tôm 500-l với tần suất 4 lần/đợt. Bảng 1 cho thấy các thành phần của RW+.

Bảng 1: thành phần của chế độ ăn trong mương RW+

Trong cuộc thử nghiệm đầu tiên kéo dài 2 tuần, chế độ RW+ được so sánh với Artemia không vỏ (chưa được ấp), chế độ ăn uống thích nghi với 40% protein và 13% chất béo, và một chế độ ăn uống thương mại (Com1) với 50% protein và 10% chất béo. Mỗi chế độ được cho ăn ở mức 100%.

Hình 1. Thử nghiệm 1: tỷ lệ sống và trọng lượng không bao gồm nước của con giống PL loại L. vannamei thả với mật độ cao và cho ăn thức ăn khác nhau trong hai tuần. Giá trị trung bình của việc cho ăn bốn lần lặp đi lặp lại, thanh độ lệch chuẩn.

Hình 2. Thử nghiệm 2: tỷ lệ sống và trọng lượng không bao gồm nước của con giống PL thả với mật độ siêu cao và cho ăn thức ăn khác nhau trong ba tuần. Giá trị trung bình của việc cho ăn bốn lần lặp đi lặp lại, thanh độ lệch chuẩn.

Vật nuôi ở giai đoạn PL10 được thả với mật độ cao (25.000 / m2) và thu hoạch khi PL25. Các chế độ ăn được áp dụng 6 khẩu phần hàng ngày để tổng khối lượng cho ăn tăng dần từ 35g/tấn/ngày đến 75g/tấn/ngày. Nhiệt độ nước trong thử nghiệm trung bình là 26°C.

Trong cuộc thử nghiệm thứ 2 kéo dài 3 tuần, chế độ RW+ được so sánh với Artemia không vỏ, một chế độ ăn uống thực nghiệm (viết tắt Exp) với 38% protein và 8% chất béo, và một chế độ ăn uống thương mại (Com2) với 53% protein và 16% chất béo. Vật nuôi được thả với mật độ siêu cao (45000/m2) khi đang trong giai đoạn PL2 và thu hoạch khi trong giai đoạn PL30. Tỷ lệ cho ăn tăng từ 45g/tấn/ngày cho PL10 đến 120g/tấn/ngày cho PL30. Nhiệt độ nước được duy trì ở 28°C. Tỷ lệ trao đổi nước hàng ngày lên đến 50% được áp dụng trong cả hai cuộc thử nghiệm để tránh các vấn đề về chất lượng nước.

Tác dụng của Artemia

Artemia không vỏ chìm nhanh và có kích thước là 250μm vì vậy không phù hợp cho ấu trùng giai đoạn mysis ăn. Tuy nhiên, chúng lại là thức ăn tuyệt vời cho sinh vật đáy PL và có thể được sử dụng để thay thế một phần hoặc toàn bộ ấu trùng Artemia. Các con Artemia không vỏ thực chất chính là phôi của Artemia với năng lượng nhiều hơn 30-50% so với ấu trùng mới nở và chứa nhiều chất dinh dưỡng hơn khi dùng làm thức ăn cho vật nuôi. Tỷ lệ sống khi làm thử nghiệm cho ăn Artemia là 89% trong thử nghiệm 1 và 98% trong thử nghiệm 2 (hình 1 và 2)

Hiệu suất tốt từ các sản phẩm Artemia chính là nhờ các giá trị dinh dưỡng lưu giữ trong nó sau khi sấy khô. Nó chứa mức protein hòa tan và carbohydrates rất thấp so với các chất nhân tạo. Tuy nhiên, như kết quả của thí nghiệm 2 khẳng định, tăng trưởng nói chung chỉ ở mức tương đối tốt, có thể là do mức độ tương đối thấp của axit béo thiết yếu n-3.

Hình 3. Tổng sản lượng sinh khối thu được trong thí nghiệm 2. Giá trị trung bình của bốn lần cho ăn lặp đi lặp lại.

Chế độ cho ăn trong mương và kết quả

Hiệu suất của RW+ nói chung là đạt tiêu chuẩn của sản phẩm Artemia. Trong thí nghiệm 1, tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng tương tự nhau với cả hai chế độ ăn. Trong thí nghiệm 2, tỳ lệ tồn tại bằng RW+ thấp hơn so với Artemia, nhưng tốc độ tăng trưởng cao hơn. Trong mọi trường hợp, tỷ lệ sống với chế độ RW+ cao hơn khá nhiều so với mức độ quan trọng đặc trưng cho khả năng sinh lời. Sinh khối thu được cuối cùng là 1,7kg/tấn (Hình 3) tương tự ở cả 2 chế độ ăn RW+ và Artemia không vỏ.

So sánh với 2 phương pháp Com1 và Com2, chế độ RW+ mang lại tỷ lệ sống tương tự và tỷ lệ tăng trưởng cao hơn đáng kể. Vì thế, tôm bột ươm được nuôi bằng chế độ RW+ có kích thước to lớn hơn những con tôm được nuôi bằng phương pháp khác. Tổng sinh khối đo được trong lần thử nghiệm thứ 2 áp dụng chế độ ăn RW+ gấp 2 lần so với chế độ Com2. Hiệu quả của RW+ khi thả tôm mật độ siêu cao là cực kỳ lớn. Thông thường, bể ươm thường được thả với tỷ lệ 500-5000PL/m2 để đạt được tỷ lệ tăng trưởng chấp nhận được.

Chế độ ăn uống thích nghi

Chế độ ăn uống thích nghi là 1 chế độ ăn bổ sung dành cho tôm PL nhằm giúp tăng sức chịu đựng của vật nuôi trước và trong quá trình chuyển sang ao nuôi thương phẩm. Được thiết kế để thay thế một phần thức ăn nhân tạo và đẩy mạnh cung cấp immunostimulants và vitamin, chế độ ăn uống bổ sung không duy trì tốc độ tăng trưởng tối ưu khi cho ăn ở mức 100% khẩu phần. Điều này đã được khẳng định bởi tốc độ tăng trưởng trung bình thu được với sản phẩm này trong thí nghiệm 1.

Kết luận

Trong các thử nghiệm, một chế độ ăn mới được phát triển trong mương độc lập được thiết kế để sử dụng trong các hệ thống mương bán thâm canh, thâm canh, hoặc siêu thâm canh là chế độ ăn thức ăn khô đầu tiên được giới thiệu đảm bảo hiệu suất tốt ở mật độ lên tới 45.000/m2. Trong việc giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động của các trại sản xuất tôm giống, phát hiện này là một bước quan trọng trong việc áp dụng thành công giai đoạn ươm giống trong sản xuất tôm, đáp ứng được sự mong đợi của người nuôi tôm sẵn sàng trả giá cao cho tôm giống bột khỏe mạnh và lớn hơn khi chúng sẽ mang lại hiệu suất cao khi đem nuôi tôm thương phẩm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/che-do-cho-an-moi-trong-giai-doan-uom-giong-giup-tom-dat-hieu-suat-tot-khi-tha-mat-do-cao-58e49377e495194e398b456b.html

Cefas phát triển công nghệ chống lại dịch bệnh của tôm

Công nghệ chẩn đoán bệnh có thể giúp nguời nông dân chống lại dịch bệnh bùng phát đang tàn phá sản lượng cá và thủy sản có vỏ trên toàn cầu giúp tiết kiệm lên đến 6 tỷ USD bị tổn thất hàng năm trong ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản toàn cầu.

Trung tâm Khoa học Môi trường, Khai thác và Nuôi trồng thủy sản của Anh (CEFAS), được công nhận là một nhà lãnh đạo trên thế giới về an toàn thực phẩm thủy sản, đang làm việc với các chính phủ và các ngành công nghiệp ở Anh và châu Á để phát triển công nghệ chẩn đoán mới dựa trên DNA liên kết với dữ liệu báo cáo bằng điện thoại thông minh, mà nông dân địa phương có thể sử dụng ngay tại ao để nhanh chóng phát hiện các bệnh có khả năng phá hoại chẳng hạn như virus gây ra hội chứng đốm trắng (WSSV)

CEFAS đang tiến hành thử nghiệm ở Thái Lan, nơi mà các bệnh như bệnh đốm trắng và các vấn đề khẩn cấp khác như hội chứng tử vong sớm (EMS) đã dẫn đến sản lượng và lợi nhuận hàng năm  bị giảm một nửa (lên tới 2 tỷ USD) từ các ngành công nghiệp tôm.

Người ta hy vọng rằng phương pháp tiếp cận mang tính cách mạng này sẽ giúp đảm bảo rằng việc phát hiện sớm cho phép quản lý nhanh hơn sự lây nhiễm và dịch bệnh và kiểm soát hiệu quả hơn các ổ dịch, mà trong quá khứ đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn cung cấp thực phẩm và tổn thất lợi nhuận cho các cộng đồng nông thôn nghèo nhất tham gia trong nông nghiệp.

Phát biểu tại Tuần lễ Agri-tech Great, là một phần của triển lãm Milan Expo, Giáo sư Grant Stentiford, CEFAS, cho biết: “Chẩn đoán phân cấp kết hợp với công nghệ được chứng minh là lĩnh vực có khả năng thu hẹp khoảng cách các kiến thức quan trọng giữa nông dân, các nhà khoa học, các chuyên gia y thủy sản, và các nhà hoạch định chính sách ở cấp quốc gia, khu vực toàn cầu

“Ở các nước có cơ sở hạ tầng thú y và chẩn đoán không được phát triển như các mạng lưới trung lập được thiết lập tại EU, phương pháp tiếp cận cho nhà nông sẽ mang đến khả năng quản lý tốt hơn các bệnh và đảm bảo lợi nhuận địa phương cũng như một chuỗi cung ứng bền vững,” ông Stentiford chỉ ra.

Kết quả của các cuộc thử nghiệm ở Thái Lan trong năm 2015 và 2016 sẽ cho phép CEFAS và các đối tác tiếp tục phát triển công nghệ mới này, và hy vọng sẽ được áp dụng ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản từ năm 2017.

Cùng tham dự Tuần lễ Agri-tech Great, Tiến sĩ Wendy Higman, Giám đốc Phát triển Kinh doanh, CEFAS nói:

“Phát triển các phương pháp mới để bảo vệ an ninh lương thực sẽ ngày càng quan trọng, với dân số toàn cầu dự kiến sẽ tăng thêm 2 tỷ người vào năm 2050 và mức tiêu thụ thủy sản chỉ riêng ở châu Á dự kiến sẽ tăng 50 phần trăm.”

“CEFAS đang làm việc với một số chính phủ và ngành công nghiệp đối tác để phát triển các công nghệ cụ thể và chúng tôi đang tìm kiếm thêm nhiều các cơ hội thương mại. Với các thử nghiệm được bắt đầu từ Thái Lan, chúng tôi đã đạt đến một cột mốc đáng ghi nhận trong dự án cực kỳ quan trọng này. Tôi đang mong đợi để thảo luận về điều này nhiều hơn nữa với các bên liên quan trong suốt thời gian chúng tôi có mặt tại Tuần lễ Agri-tech Great, Milan Expo, ” ông Higman nói thêm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cefas-phat-trien-cong-nghe-chong-lai-dich-benh-cua-tom-58e5df79e4951952458b456b.html

Nuôi ếch giống và thương phẩm thu gần 2 tỷ đồng/năm

Ếch là vật nuôi đang được nhiều người nông dân xã Hoàng Hoa Thám (huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên) chọn lựa bởi những ưu việt và hiệu quả kinh tế mà nó đem lại.

Nuôi ếch giống và thương phẩm thu gần 2 tỷ đồng/năm

Anh Quân chăm sóc đàn ếch

Anh Phạm Văn Quân (SN 1988) là tri thức trẻ đã từ bỏ thành phố với mức thu nhập 10 triệu đồng/tháng để về quê chọn nghề nuôi ếch làm giàu. Trước khi khởi nghiệp chăn nuôi, anh đi tham quan nhiều mô hình nuôi ếch ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình để học hỏi. Đầu năm 2015, anh quyết định sử dụng trang trại của gia đình có diện tích mặt nước rộng 1,5 mẫu vào việc nuôi ếch.

Theo anh Quân, nuôi ếch thương phẩm chỉ trong thời gian ngắn, lợi nhuận khá cao, con ếch lại rất gần gũi với người nông dân và đặc biệt nhất là giá cả, thị trường ổn định. Năm đầu tiên, anh nuôi thử thành công khi thu hoạch được 10 tấn ếch thương phẩm. Để mở rộng mô hình, đầu năm 2016 anh mạnh dạn vay thêm vốn, thuê thêm đất công điền thuộc khu ruộng trũng của xã để làm trang trại nuôi ếch với quy mô 6,5ha. Ngoài nuôi ếch thịt, anh Quân còn tìm tòi, học hỏi nuôi ếch sinh sản, để không phải đi mua ếch giống như trước đây. Điều này cũng giúp nhiều hộ trong xã không phải nhập giống ở xa.

Anh Quân chia sẻ, ếch thường nuôi từ tháng 4 đến tháng 10 DL vì nó là động vật máu lạnh cần thời tiết ấm và nhiệt độ cao để tiêu hóa thức ăn. Có thể nuôi trong giai, lồng bè hoặc trong bể xi măng, bể lót bạt. Loài ếch rất nhạy cảm với môi trường nước bẩn, hơn nữa nó lột da hàng ngày nên việc thay nước rất quan trọng. Tốt nhất là sử dụng bể xi măng, bể lót bạt vì dễ thay nước hàng ngày, quản lý dễ hơn, không bị rủi ro.

Chọn ếch giống to khỏe, đều cỡ, hoạt động nhanh nhẹn, sắc nét, không bị dị tật, dị hình. Trước khi thả, cho ếch giống tắm nước muối loãng từ 1 – 2 phút. Sau đó thả túi chứa ếch xuống ao 15 – 20 phút, cho nước vào từ từ và thả ra ao. Nên thả ở đầu gió. Ếch giống kích cỡ 100 – 200 con/kg. Mật độ thả tháng thứ nhất nuôi từ 150 – 200 con/m2, tháng thứ 2 từ 100 – 150 con/kg, tháng thứ 3 từ 80 – 100 con/kg.

Cũng theo anh Quân, ếch rất háu ăn và hay cắn nhau. Do vậy công việc cho ăn và phân đàn rất quan trọng. Lượng cho ăn điều chỉnh hàng ngày tùy theo sức ăn của ếch. Ếch trọng lượng 30 – 100g cho ăn 3 – 4 lần/ngày, trên 100g cho ăn 2 – 3 lần/ngày. Ếch ăn mạnh vào chiều tối và ban đêm. Về phân đàn, sau khi thả nuôi 7 – 10 ngày phải kiểm tra lựa nuôi riêng những con lớn vượt đàn để tránh sự ăn lẫn nhau. Khi ếch đạt trọng lượng 50 – 60g thì chúng ăn nhau giảm. Nếu cho ăn đầy đủ và phân đàn tốt thì cứ 2 – 2,5 tháng ếch đủ tiêu chuẩn để xuất bán.

Hiện nhiều lái buôn ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… đã đến đặt hàng ếch thương phẩm của anh. Năm 2016 vừa qua, trang trại đã xuất ra thị trường hơn 40 tấn ếch thương phẩm và 10 vạn con ếch giống cho 10 hộ nông dân trong xã. Với giá ếch thương phẩm bình quân 45 nghìn đồng/kg, anh thu nhập hơn 1,9 tỷ đồng. Hiện 25 hộ trong xã đăng kí mua ếch giống của anh. Do nhu cầu về ếch thương phẩm ngày càng nhiều, anh Quân dự định sẽ mở rộng diện tích nuôi trên toàn bộ trang trại của mình.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-ech-giong-va-thuong-pham-thu-gan-2-ty-dong-nam-594b2e20e4951998708b456c.html